TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/DS-PT Ngày: 27-5-2024 V/v “ Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Ninh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thanh Thảo
Ông Phạm Tiến Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Tân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20 và 27 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 308/2023/TLPT-DS ngày 26/12/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 34/2024/QĐXXPT-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 26/2024/QĐPT-DS ngày 25/3/2024, giữa:
*Nguyên đơn: Ông Lê Quốc A, sinh năm 1987; trú tại: Số H, đường số H, tổ A, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt). Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1996; trú tại: Khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Tô Ngọc Đ, sinh năm 1976; trú tại: Tổ F, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước (có mặt).
*Bị đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1963; trú tại: Tổ E, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn C, sinh năm 1989; trú tại: B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1993; trú tại: Tổ E, khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
Bà Lê Thị Thu T, sinh năm 1988; trú tại: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (có mặt).
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Quốc A
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ngày 29/9/2022, ông A đồng ý nhận chuyển nhượng của ông L thửa đất số 489 tờ bản đồ số 22 tại khu phố F, T, huyện H, tỉnh Bình Phước với giá 3.800.000.000 đồng, đất do ông L đứng tên chủ sử dụng. Do ông A không có tiền để nhận chuyển nhượng ngay thời gian đó nên ông A đặt cọc cho ông L số tiền 500.000.000 đồng, có lập hợp đồng đặt cọc ngày 29/9/2022. Ngày 21/10/2022, ông A đặt cọc cho ông L thêm số tiền 500.000.000 đồng nữa nhưng các bên thống nhất ghi là ngày 29/9/2022 với tổng số tiền của cả 02 lần là 1.000.000.000 đồng.
Các bên thỏa thuận ngày 29/12/2022 ra Văn phòng công chứng để ký thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất và ông A sẽ giao nốt số tiền còn lại, ông L phải cắm mốc ranh rõ ràng, đất không có tranh chấp trước khi ký chuyển nhượng và nếu ông A không nhận chuyển nhượng thì mất cọc còn ông L không làm thủ tục chuyển nhượng cho ông A được thì phải chịu phạt cọc gấp đôi tức là phải trả cho ông A số tiền 3.000.000.000 đồng.
Sau khi đặt cọc, hai bên có đo đạc và cắm mốc theo đúng giấy chứng nhận quyền sử dụng, có nhận vị trí đất theo ông L chỉ nhưng chưa tiến hành giao nhận đất. Nguyên đơn thấy ranh đất ông L chỉ với ranh đất bên cạnh được phân định bằng rãnh nước và theo ông L nói thì trước đó còn có bụi le nhưng khi nhận vị trí đất thì không còn bụi le mà chỉ có khe nước. Trên diện tích đất của ông L có trồng cao su đang được thu hoạch, đất bên cạnh đất của ông L thì có trồng cao su nhưng còn nhỏ. Nhìn bằng mắt thường thì có thể phân biệt được đất của ông L và đất bên cạnh rõ ràng.
Gần đến ngày công chứng thì ông L1 - chủ đất bên cạnh có gọi điện báo cho ông A là đất ông L đang có tranh chấp, ranh giới giữa các bên chưa rõ ràng.
Ngày 23/12/2022, các bên có xuống xác định lại ranh đất với các chủ đất bên cạnh thì ông L1 và ông B có nói nếu các bên vẫn chuyển nhượng theo mốc ranh phía ông L và ông A đã cắm thì những người này sẽ nộp đơn khởi kiện để ngăn chặn việc chuyển nhượng, phía ông A có lập vi bằng về việc này với sự có mặt của ông A và ông L. Khi lập vi bằng thì ông B và ông L1 không nói chỗ cao su ông L chỉ là của những người này.
Do thấy có tranh chấp nên ông A yêu cầu không tiếp tục nhận chuyển nhượng và yêu cầu ông L trả lại tiền cọc nhưng ông L không chịu. Ngày 29/12/2022, ông A mặc dù có ra Văn phòng công chứng nhưng cũng đã xác định với ông L là do đất tranh chấp nên không tiếp tục nhận chuyển nhượng. Ông A khởi kiện yêu cầu ông L trả tiền cọc và phạt cọc theo Hợp đồng đặt cọc với tổng số tiền 3.000.000.000 đồng.
Ông N tuy ký hợp đồng đặt cọc với tư cách là người bán nhưng do đất đứng tên một mình ông L và ông A cũng giao tiền cho ông L nên ông A yêu cầu ông L có trách nhiệm trả số tiền này cho ông A.
Bị đơn ông Nguyễn Thành L và người đại diện theo ủy quyền của ông L là ông Lê Văn C thống nhất trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về nội dung trong hợp đồng đặt cọc, thời gian và số tiền đặt cọc. Tại thời điểm các bên lập hợp đồng đặt cọc cho đến nay thì diện tích đất thửa đất số 489 tờ bản đồ số 22 tại khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước của ông L không có bất kỳ đơn tranh chấp nào của ai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đất ông L sử dụng được phân biệt với đất bên cạnh là hàng bụi le và ranh nước, sử dụng thực tế giống với giấy chứng nhận được cấp. Ông L cũng đã làm việc với ông B và ông L1 thì những người này chỉ nói là nói thế chứ không làm đơn tranh chấp với ông L.
Ngày 29/12/2022, ông L đã ra Văn phòng công chứng theo thỏa thuận nhưng phía ông A không đồng ý tiếp tục nhận chuyển nhượng. Ông L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông A vì đất không có tranh chấp mà phía ông A không mua thì phải chịu mất cọc.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N thống nhất lời trình bày của ông L.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc A về việc buộc ông Nguyễn Thành L trả tiền cọc và phạt cọc với tổng số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí, chi phí tố tụng và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/9/2023 nguyên đơn ông Lê Quốc A có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quốc A.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L phải trả cho ông A số tiền phạt cọc theo hợp đồng đặt cọc là 2.000.000.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L phải trả cho vợ chồng ông A số tiền đã nhận cọc là 1.000.000.000đ hoặc huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản do Toà án sơ thẩm không đưa vợ ông A vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ ông A.
Người đại diện uỷ quyền của bị đơn đồng ý việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L phải trả cho ông A số tiền phạt cọc theo hợp đồng đặt cọc là 2.000.000.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về phần trả tiền cọc.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm không xác định tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với bà T, ông B, ông X, không tiến hành lấy lời khai ông B, ông X (do các bản trình bày của ông X, ông B được đánh máy sẵn) là vi phạm quy định tại các Điều 68, 70, 98, 99 BLTTDS, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự và việc giải quyết vụ án và Toà cấp sơ thẩm không thực hiện việc đo đạc để làm rõ có hay không có tranh chấp về ranh là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, vi phạm các Điều 93. 97 BLTTDS, ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Như vậy cấp sơ thẩm đã có những vi phạm về trình tự thủ tục tố tụng và thu thập chứng cứ mà không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông A, huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và chuyển hồ sơ về cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn thực hiện trong thời hạn luật định; đơn kháng cáo có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của BLTTDS, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.1] Đối với việc xác định tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án là bà Lê Thị Thu T vợ của ông A. Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm Toà án tiến hành lấy lời khai của bà T và đưa bà T vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông A đối với bị đơn ông L. Về nội dung yêu cầu khởi kiện của ông A thì bà T đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông A. Mặc dù, trong đơn khởi kiện của ông A không có tên bà T và chữ ký của bà T nhưng đây là tài sản chung của vợ chồng nên bà T đề nghị Toà án xem xét giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chồng bà là ông Lê Quốc A. Buộc ông L phải trả lại số tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng và tiền phạt cọc 2.000.000.000 đồng. Tổng số tiền buộc ông L trả lại số tiền 3.000.000.000 đồng. Bà T yêu cầu Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của ông Lê Quốc A. Mặc dù, Toà án cấp sơ thẩm không đưa bà T vào tham gia tố tụng nhưng quyền và nghĩa vụ của bà T vẫn được đảm bảo theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông A. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm không đưa bà T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có thiếu sót nhưng không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T nên không cần thiết phải huỷ bản án nên yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[1.2] Đối với yêu cầu xem xét, thẩm định tài sản tại chỗ: Quá trình tạm ngừng phiên toà ngày 06/5/2024 Toà án có nhận được đơn yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn yêu cầu Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ lại để xác định ranh đối với những người sử dụng đất liền kề tại thời điểm giao dịch đặt cọc. Xét yêu cầu của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng, trong thời gian tạm ngừng phiên toà, Toà án cũng đã thu thập chứng cứ và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H cung cấp danh sách những người sử dụng đất liền kề đối với thửa đất ông A đặt cọc cho ông L. Mặt khác, đây là tranh chấp hợp đồng đặt cọc nên không cần thiết phải xem xét, thẩm định tại chỗ nên yêu cầu này của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Tô Ngọc Đ và nguyên đơn ông Lê Quốc A rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L phải trả cho ông A số tiền phạt cọc theo hợp đồng đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng). Yêu cầu này được người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Lê Văn C đồng ý và việc đại diện uỷ quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyên nên HĐXX hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết một phần vụ án về phần này.
[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L phải trả lại số tiền mà ông L đã nhận cọc của ông A là 1.000.000.000 đồng Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại cấp phúc thẩm các bên đều thừa nhận ngày 29/9/2022 ông Lê Quốc A và ông Nguyễn Thành L đã thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 12.888,1m² thuộc thửa đất số 489, tờ bản đồ số 22 tọa tại khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Đất đã được cấp giấy CNQSDĐ số vào sổ CS 27797, cấp ngày 15/02/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Nguyễn Thành L với giá 3.800.000.000 đồng (ba tỷ tám trăm triệu đồng). Hai bên làm hợp đồng đặt cọc viết tay ngày 29/9/2022 ông A đặt cọc cho ông L số tiền 500.000.000 đồng. Ngày 21/10/2022, ông A đặt cọc cho ông L thêm số tiền 500.000.000 đồng nữa sau đó các bên thống nhất ghi là ngày 29/9/2022 với tổng số tiền của cả 02 lần là 1.000.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận số tiền 2.800.000.000 đồng còn lại ông A sẽ trả đủ khi hoàn tất thủ tục công chứng. Nếu bên B (ông A) không mua thì chịu mất cọc còn bên A (ông L) không bán hoặc không cung cấp đầy đủ giấy tờ liên quan hay đất bị tranh chấp, quy hoạch thì phải đền gấp đôi số tiền cọc. Thời gian hoàn tất thủ tục công chứng là 90 ngày từ ngày 29/9/2022 đến ngày 29/12/2022. Lời trình bày này của nguyên đơn được bị đơn thừa nhận nên đây là sự thật không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy, việc thỏa thuận của các bên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117, Điều 401 của Bộ luật dân sự.
Sau khi ký hợp đồng đặt cọc và để tiến tới ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông A và ông L đã tiến hành đo đạc cắm mốc và giao ranh cho ông A nên ông A đã tiến hành rào và xây trụ cổng trên diện tích đất đặt cọc để chuyển nhượng. Tuy nhiên, nguyên đơn ông A cho rằng gần đến ngày công chứng thì ông L1 - chủ đất bên cạnh có gọi điện báo cho ông A là đất ông L đang có tranh chấp, ranh giới giữa các bên chưa rõ ràng. Đến ngày 23/12/2022, các bên có xuống xác định lại ranh đất với các chủ đất bên cạnh thì ông L1 và ông B có nói nếu các bên vẫn chuyển nhượng theo mốc ranh phía ông L và ông A đã cắm thì những người này sẽ nộp đơn khởi kiện để ngăn chặn việc chuyển nhượng, phía ông A có lập vi bằng về việc này với sự có mặt của ông A, ông L, ông B và ông L1. Do diện tích đất nhận chuyển nhượng có tranh chấp nên ông A không thực hiện nhận chuyển nhượng.
Lời trình bày này của ông A không được ông L đồng ý và ông L khẳng định diện tích đất trên ông đã sử dụng ổn định từ trước đến nay ranh giới giữa các bên rõ ràng thể hiện bằng việc ông đã múc ranh từ năm 2012 và cây trồng trên đất của ông là cây cao su già còn cây của các hộ giáp ranh là cây cao su non. Mặt khác, những hộ giáp ranh với thửa đất của ông không có ai tên L1, đối với thửa đất số 116 là của ông Bùi Duy L2 chứ không phải là của ông L1 như nội dung Vi bằng thể hiện.
[3] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà phúc thẩm ngày 25/3/2024 các bên đương sự đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để các bên đương sự cung cấp thêm tài liệu chứng cứ đồng thời để có căn cứ giải quyết vụ án Toà án cũng tiến hành xác minh thu thập chứng cứ để có căn cứ giải quyết vụ án.
Ngày 04/4/2024 Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước nhận được văn bản trình bày ý kiến của ông Lê Văn B1, sinh năm 1963 và ông Nguyễn Trọng X1, sinh năm 1977, cùng trú tại: tổ A, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước, ông B1 và ông X1 đều xác nhận giữa ông B1 và ông X1 là chủ đất giáp ranh với đất của ông Nguyễn Thành L các bên không có tranh chấp gì tại thời điểm ông L nhận đặt cọc chuyển nhượng đất với ông A. Ông B1 và ông X1 đều xác nhận từ trước đến nay ranh đất giữa các bên vẫn sử dụng ổn định và được phân định rõ ràng.
Tại Công văn số 496/CNVPĐKĐĐ-LT ngày 16/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H cung cấp thông tin các chủ sử dụng đất liền kề (giáp ranh) với thửa đất số 489, tờ bản đồ số 22 toạ lạc tại khu phố F, thị trấn T, huyện H cấp cho ông Nguyễn Thành L cụ thể như sau:
Thửa đất số 116, tờ bản đồ số 22 toạ lạc tại khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước có số phát hành DK 813301 được Sở TNMT tỉnh B ký cấp GCNQSDĐ ngày 12/07/2023 cho ông Bùi Duy L2.
Thửa đất số 490, tờ bản đồ số 22 và thửa đất số 341, tờ bản đồ số 22 toạ lạc tại khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Trọng X1 và bà Nguyễn Thị V.
Thửa đất số 120, tờ bản đồ số 22 chủ sử dụng đất là ông Lê Văn B1.
Đồng thời, tại biên bản xác minh ngày 17/7/2023 tại UBND thị trấn T cũng xác nhận UBND thị trấn T chưa thụ lý hay nhận bất cứ một đơn tranh chấp nào của ai đối với thửa đất 489, tờ bản đồ số 22 toạ lạc tại khu phố F, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Nguyên đơn ông A cho rằng tại thời điểm lập Vi bằng có ông B1 – chủ sử dụng thửa đất số 490, ông L1 là chủ sử dụng thửa đất số 116. Tuy nhiên, qua xác minh cũng như Công văn cung cấp thông tin của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H cung cấp cho Toà án thì không có ông L1 – chủ sử dụng thửa đất số 116, mà chủ sử dụng thửa đất số 116 là ông Bùi Duy L2. Do đó, nguyên đơn căn cứ vào Vi bằng lập ngày 30/12/2022 để xác định đất đang có tranh chấp là hoàn toàn không có căn cứ. Đồng thời, cũng tại Văn bản trình bày ý kiến của ông B1 cũng xác nhận giữa ông B1 và ông L không có tranh chấp từ trước tới nay. Mặt khác, tại phiên Toà phúc thẩm nguyên đơn ông A cho rằng việc xác định lại mốc ranh là do ông N con ông L gọi cho ông A, việc ông L1 có mặt tại ngày lập Vi bằng do ai gọi thì ông A không biết. Như vậy lời trình bày này của ông A mâu thuẫn với lời trình bày của ông A tại cấp sơ thẩm “...gần đến ngày công chứng thì ông L1 - chủ đất bên cạnh có gọi điện báo cho ông A là đất ông L đang có tranh chấp, ranh giới giữa các bên chưa rõ ràng.” (bút lục số 122 và bút lục số 81).
[4] Như vậy, nguyên đơn ông Lê Quốc A căn cứ vào Vi bằng để cho rằng diện tích mà hai bên đã lập hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho việc ký hợp đồng chuyển nhượng có tranh chấp nên không đồng ý tiếp tục nhận chuyển nhượng và xác định lỗi dẫn đến việc không ký được Hợp đồng chuyển nhượng là thuộc về bị đơn để buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L trả lại tiền cọc và tiền phạt cọc là không có căn cứ nên Toà cấp sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm phía nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu phạt cọc và được phía bị đơn đồng ý nên HĐXX hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết một phần vụ án về phần này và giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền đặt cọc.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Theo quyết định của bản án sơ thẩm.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
[7] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 299, khoản 4 Điều 308 và Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và Đình chỉ giải quyết một phần vụ án đối với yêu cầu của ông Lê Quốc A về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Thành L phải trả cho ông A số tiền phạt cọc theo hợp đồng đặt cọc là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Quốc A;
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 41/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền đặt cọc là 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng);
- Căn cứ vào các Điều 117, 328, 401 của Bộ luật dân sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc A về việc buộc ông Nguyễn Thành L phải trả số tiền cọc là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
- Chi phí tố tụng: Ông Lê Quốc A phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp. Ông A đã thực hiện xong.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Quốc A phải chịu số tiền 92.000.000 đồng (Chín mươi hai triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0014403 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản. Số tiền còn lại ông Lê Quốc A phải nộp là 46.000.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0015041 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Quang Ninh |
Bản án số 98/2024/DS-PT ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 98/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
