|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 98/2024/HSST Ngày 26 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.
Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn và bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Công- Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 14/3/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2024/QĐ-HS ngày 25/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐ-HS ngày 08/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐ-HS ngày 15/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1987. Giới tính: Nam.
Tên gọi khác: không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.
Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12.
Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1958.
Con bà: Đỗ Thị H1, sinh năm 1959.
Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
Ngày 21/9/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 28/9/2006, bị Tòa án nhân dân Việt Yên (nay là thị xã V) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị khởi tố, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. (có mặt tại phiên toà)
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971. Trú tại: Số nhà C, khu phố A, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt tại phiên toà)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Quyết T, sinh năm 1953; địa chỉ: Số D, đường V, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1958; địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1973; địa chỉ: Số H, đường N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt tại phiên toà)
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1954; địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
- Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1954; địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
- Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1975; địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
- Ông Nguyễn Bá Đ1, sinh năm 1971; địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
- Ông Nguyễn Bá T1, sinh năm 1944; địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
- Ông Trần Thanh B1, sinh năm 1977; địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (có mặt tại phiên toà)
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1957; địa chỉ: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1971; địa chỉ: TDP T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt tại phiên toà)
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1971, trú tại số nhà C, tổ A, Khu phố I, phường Đ, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh cùng ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1953, nơi thường trú tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, chỗ ở số nhà D, đường V, phường X, thành phố B; ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1958, trú tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang; ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1973, nơi thường trú tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, chỗ ở số nhà H, đường N, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 là con trai ông B có quan hệ anh em ruột, chú cháu của nhau. Sau khi bố mẹ chết, ông N và anh em trong gia đình xảy ra tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất đối với thửa đất trước đây bố mẹ ở khi còn sống tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Ông N xác định thửa đất tranh chấp trên là của ông N vì khi còn sống bố mẹ đã cho ông N, anh em còn lại thì không đồng ý.
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/3/2023, ông N đi về thửa đất nơi bố mẹ ở khi còn sống và đang tranh chấp nêu trên, thấy ông T3, B, Ký, H cùng một số anh chị em, con cháu khác đang tổ chức cúng giỗ bố đẻ nhưng không được sự đồng ý của ông N. Lúc này, ông N yêu cầu mọi người lần sau không được cúng giỗ ở đây vì là nhà của ông N. Hôm nay đã làm giỗ rồi thì thôi, đồ cúng giỗ của ai thì tự mang về. Khi thấy hai chị dâu là bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1954 (vợ ông T3), Đỗ Thị H1, sinh năm 1959 (vợ ông B) ở ngoài hiên nhà đi vào trong nhà thắp hương cúng bố, mẹ thì ông N không đồng ý cho vào cúng vì khi còn sống hai chị dâu hay mắng chửi mẹ chồng. Thấy vậy, ông T3 mắng N rồi cả hai đứng ở hiên nhà cãi nhau. Trong lúc cãi nhau, ông T3 dùng tay phải tát một cái vào má phải N, ông K1 cũng chạy lại để đánh N. Lúc này, anh Nguyễn Bá Đ1, sinh năm 1971, ở tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang là khách được mời đến dự đám giỗ chạy đến dùng tay đẩy ông T3, Ký ra đồng thời đẩy ông N xuống sân để không cho đánh nhau. Sau đó, ông N đứng dưới sân, dùng hay tay cầm vào mép bàn cỗ hất đổ liên tiếp hai bàn cỗ ở dưới sân. Lúc này, ông B, H đang ở sân cùng chạy lao về phía ông N, trong đó tay trái H cầm theo 01 chiếc ghế Inox màu trắng dùng ngồi ăn cỗ (ghế I, mặt ghế hình tròn ghế có 04 chân, được hàn nối với một vòng tròn bằng kim loại) để đánh ông N. Thấy vậy, anh Đ1 chạy đến can ngăn không cho đánh nhau, thì ông B dùng tay trái đấm về phía ông N 01 cái nhưng trúng vào lưng anh Đ1; còn H đứng đối diện ông N dùng tay trái đập ghế về phía N thì anh Đ1 dùng tay phải đỡ ghế nên không trúng người ông N. Anh Đ1 tiếp tục đẩy ông N về cuối sân và giang tay không cho mọi người đánh ông N, cùng lúc này anh Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1975 ở cùng địa chỉ với anh Đ1 có mặt ở sân dùng hai tay ôm ông N từ phía sau để không cho đánh nhau. Tiếp đó, H tay trái vẫn cầm chân ghế Inox tiến sát về phía tay trái N rồi giơ ghế lên đập một nhát phần mặt ghế vào vùng trán trái và sống mũi ông N làm ông N chảy máu. Sau đó, anh Đ1 đẩy ông N ra ngoài đường, còn H dừng lại không đánh anh N nữa, bỏ lại ghế để ở sân lẫn vào những chiếc ghế dùng bầy cỗ khác.
Ông N đi sang nhà anh Đ1 ở cạnh đó, rồi anh Đ1 dùng bông băng y tế cầm máu vùng trán, sống mũi cho ông N. Tiếp đó, ông N nhờ anh Trần Thanh B1, sinh năm 1977 ở cùng địa chỉ với anh Đ1 đưa đến Trung tâm y tế huyện V khám, sơ cứu thương tích rồi tự về nhà điều trị.
Ngày 24/3/2023, ông N trình báo việc bị H cùng người khác gây thương tích ngày 19/3/2023 tới Công an thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang. Cùng ngày 24/3/2023, Công an thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V) tiến hành kiểm tra, xác định hiện trường nơi xảy ra sự việc, đồng thời ông N giao nộp 01 chiếc ghế Inox, mặt ghế hình tròn chỗ rộng nhất 27,5cm, ghế có 04 chân, cao 44cm, được hàn nối với một vòng tròn bằng kim loại, chỗ rộng nhất 38,5cm và khai là vật H dùng gây thương tích.
Ngày 31/3/2023, Công an thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V) bàn giao toàn bộ tài liệu, đồ vật vụ việc nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V (nay là thị xã V) điều tra theo thẩm quyền.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 30/3/2023 của Trung tâm y tế huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang thể hiện ông Nguyễn Văn N đến khám, điều trị thương tích ban đầu hồi 09 giờ 40 phút ngày 19/3/2023 với thương tích: Sống mũi vị trí giữa hai hốc mắt có vết thương kích thước ≈ 0,5 x 2cm, sâu 0,3cm, chảy máu. Vùng trán bên trái có vết thương kích thước ≈ 0,5 x 1cm, sâu 0,2cm, rỉ ít máu, các vết thương bờ nham nhở, đau chếch dọc sống mũi. X-quang mặt: Vỡ xương sống mũi.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1347/23/KLTTCT-TTPY ngày 20/4/2023 của Trung tâm pháp y - Bệnh Viện đa khoa tỉnh B đối với thương tích của ông Nguyễn Văn N kết luận: Thương tích vết sẹo kích thước nhỏ sống mũi + X-quang mặt: Vỡ xương sống mũi: 10%. Thương tích vết sẹo vùng trán trái: 3%. Các thương tích do vật tày gây nên.
Tại Kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 1436/23/ KLTTCT-TTPY ngày 26/5/2023 của Trung tâm pháp y - Bệnh Viện đa khoa tỉnh B đối với thương tích của ông Nguyễn Văn N, kết luận: Chiếc ghế Inox gửi giám định (ghế do Công an thị trấn N thu giữ) là vật gây ra được các thương tích của ông Nguyễn Văn N tại Kết luận giám định về tổn thương cơ thể trên người sống số 1347/23/KLTTCT-TTPY ngày 20/4/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh Viện đa khoa tỉnh B kết luận.
Tại Kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 1684/23/KLBSHS-PY ngày 20/9/2023 của Trung tâm pháp y - Bệnh Viện đa khoa tỉnh B kết luận: Dùng chiếc ghế Inox, mặt ghế hình tròn chỗ rộng nhất 27,5cm, ghế có 04 chân, cao 44cm, được hàn nói với một vòng tròn bằng kim loại, chỗ rộng nhất 38,5cm đánh một phát gây được thương tích cho ông Nguyễn Văn N như trong giấy chứng nhận thương tích của Trung tâm y tế huyện V (nay là thị xã V).
Ngày 29/6/2023, Cơ quan điều tra cho bị cáo H tự mô tả và vẽ lại chiếc ghế H dùng đánh gây thương tích cho ông Nguyễn Văn N vào ngày 19/3/2023. Kết quả, H đã tự mô tả và vẽ được hình dáng chiếc ghế cầm đánh ông N vào ngày 19/3/2023 giống với chiếc ghế ông N giao nộp cho Công an và khai là vật H dùng gây thương tích.
Trong quá trình điều tra vụ án, ban đầu H khai nhận cầm ghế I đánh ông N. Sau đó, H thay đổi lời khai không thừa nhận cầm ghế đánh ông N và khai ông N hất bàn cỗ rồi bị ngã đập mặt vào bàn dẫn đến bị thương. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả điều tra có đủ căn cứ kết luận thương tích của ông N là do H gây ra như diễn biến vụ án nêu trên.
Ông T3 có hành vi tát ông N 01 cái, ông B, K1 dùng tay không đánh về phía ông N nhưng đều không gây thương tích gì. Hành vi của ông T3, B, Ký diễn ra ở các giai đoạn khác nhau, không có sự bàn bạc, hô hào, hưởng ứng ý chí cùng gây thương tích cho ông N. Hành vi của từng người là tự phát, do bực tức việc ông N chửi bới, hất bàn cỗ, không cho cúng giỗ bố đẻ vào ngày giỗ, khi có người ngăn cản đã dừng hành vi của mình; không giúp sức cho H đánh ông N. Do đó, hành vi của ông T3, B, Ký không đồng phạm với H, không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với chiếc ghế Inox H cầm đánh gây thương tích cho ông N, sau khi đánh ông N đã để lẫn vào những chiếc ghế khác dùng ngồi ăn giỗ và sau khi tổ chức giỗ xong, gia đình đã lau dọn nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Chiếc ghế Inox ông N giao nộp cho Công an là một trong những chiếc ghế gia đình bầy dùng ngồi ăn cỗ giỗ ngày 19/3/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông N.
Trách nhiệm dân sự: ông N không yêu cầu bị cáo hay ai phải bồi thường khoản tiền gì liên quan đến việc bị đánh gây thương tích.
Tại cơ quan điều tra bị cáo không thành khẩn khai báo nhưng tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình; bị hại không yêu cầu bồi thường, không nhận của bị cáo số tiền bị cáo nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự thị xã V, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 7.000.000₫ bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên nhằm bồi thường thiệt hại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo và bị hại đồng ý với bản luận tội và không có tranh luận gì.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiên hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo trong hồ sơ phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ và kết luận giám định thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/3/2023, ông Nguyễn Văn N thấy ông Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn K1 và bị cáo Nguyễn Văn H cùng một số anh em, con cháu khác đang tổ chức cúng giỗ bố đẻ trong ngôi nhà ở thửa đất tại tổ dân phố H, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, là nơi anh em đang có tranh chấp quyền sở hữu. Ông N xác định thửa đất trên bố mẹ đã cho ông N khi còn sống. Việc cúng giỗ tại ngôi nhà trên không được ông N cho phép nên yêu cầu mọi người đi khỏi nhà và dùng tay hất bàn cỗ bầy dưới sân. Thấy vậy, Nguyễn Văn H dùng tay trái cầm 01 ghế Inox ở bàn cỗ đập một nhát phần mặt ghế vào vùng trán trái và sống mũi ông N. Hậu quả, ông N bị thương tích rách da chảy máu vùng trán trái, sống mũi, vỡ xương sống mũi với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo theo điểm, khoản, điều luật như trên là có căn cứ và đúng với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người. Quyền này được hiến pháp và pháp luật bảo vệ, đòi hỏi các cá nhân và các chủ thể khác trong xã hội phải tôn trọng.
[3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu về hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, bị cáo đã được xoá án tích trên 10 năm.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo H đã không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của minh, đã nộp số tiền 7.000.000đ vào cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả nhưng bị hại không nhận; Bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo H gây thương tích do hành vi của ông N hất bàn cỗ, ngăn cản không cho cúng giỗ vào ngày giỗ bố ông N là ông nội H nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích trên, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe, và phòng ngừa chung.
[7] Về vật chứng: Đối với chiếc ghế Inox H cầm đánh gây thương tích cho ông N, sau khi đánh ông N đã để lẫn vào những chiếc ghế khác dùng ngồi ăn giỗ và sau khi tổ chức giỗ xong, gia đình đã lau dọn nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Chiếc ghế Inox ông N giao nộp cho Công an là một trong những chiếc ghế gia đình bầy dùng ngồi ăn cỗ giỗ ngày 19/3/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông N nên không xử lý.
[8] Trách nhiệm dân sự và số tiền tạm giữ: ông N không yêu cầu bị cáo hay ai phải bồi thường khoản tiền gì liên quan đến việc bị đánh gây thương tích. Bị cáo đã nộp số tiền 7.000.000đ vào cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả. Tại phiên toà ông N là bị hại có trình bày là H có gây thiệt hại cho ông về sức khoẻ, danh dự nhưng ông không yêu cầu H phải bồi thường. Ông N có ghi nhận là bị cáo có ý thức bồi thường thiệt hại cho ông nhưng ông N không cần thiết nhận số tiền này và đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo số tiền trên nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự và số tiền bị cáo nộp: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 7.000.000đ bị cáo đã nộp tại Biên lai số 0001631 ngày 22/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo và bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 98/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 98/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: gây thương tích
