Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HS-ST

Ngày 25/08/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi – Bà Phạm Thị Ngọc Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi - Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2023/HS-ST ngày 04/08/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HS ngày 11/08/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Ngọc T, sinh năm:1987. Nơi cư trú: số nhà A, ngõ H, đường N, phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Ngọc T1 (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị D; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: - Tại Quyết định xử phạt hành chính số 30 ngày 24/6/2016, Công an phường T, thành phố N xử phạt Bùi Ngọc T 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Tại Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 32 ngày 08/12/2017 của Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình đối với Bùi Ngọc T thời hạn 18 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/6/2023 đến ngày 06/7/2023 chuyển tạm giam tại nhà tạm giam Công an thành phố N, sau đó chuyển đến trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay, có mặt.

Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Trung K, sinh năm: 1956. Vắng mặt
  • - Ông Đào Sỹ G, sinh năm: 1964. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 09h ngày 28/06/2023 tổ công tác Công an xã N làm nhiệm vụ tại khu vực tuyến đường thôn T, xã N, T phát hiện một người nam giới điều khiển xe máy nhãn hiệu Atila mầu đen BKS 35N5-9235 có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác đã yêu cầu người này dừng xe, kiểm tra hành chính. Người thanh niên khai tên là Bùi Ngọc T, sinh năm:1987 trú tại: số nhà A, ngõ H, đường N, phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của Bùi Ngọc T đang cầm 01 chiếc khẩu trang mầu trắng, bên trong chiếc khẩu trang có 02 túi nilon mầu trắng kích thước mỗi túi khoảng 01x01 trong mỗi túi có chứa chất bột mầu trắng. Bùi Ngọc T khai nhận 02 túi nilon này là H mua của một người thanh niên không quen biết với giá 180.000đ. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong 02 túi ma túy và khẩu trang đã thu giữ vào một phong bì, dán kín, có chữ ký của các thành phần tham gia theo đúng quy định của Pháp luật và tiến hành đưa Bùi Nọc T2 cùng vật chứng về Công an xã N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Bùi Ngọc T 01 xe mô tô nhãn hiệu Atila mầu đen BKS 35N5-9235. Bùi Ngọc T đã khai nhận vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/6/2023 do có nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35N5- 9235 đi từ nhà tại phố V, phường T, thành phố N đến khu vực đường X, thuộc thôn T, xã N, thành phố N để tìm mua ma tuý. Khi đi đến đầu ngõ E đường X, thuộc thôn T, xã N, thành phố N thì T dựng xe mô tô ở đầu ngõ đi bộ vào trong ngõ gặp và hỏi mua 180.000 đồng tiền ma tuý của một người nam thanh niên quen biết (nhưng không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể), người nam thanh niên đồng ý bán cho Tá 02 túi nilon màu trắng đều có ma tuý được gói trong khẩu trang. Sau đó T cầm chiếc khẩu trang bên trong có 02 túi Heroin mua được ở trong lòng bàn tay phải và đi bộ về phía chiếc xe mô tô của T, còn người nam thanh niên bỏ đi luôn.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng trong 02 túi nilon thu giữ của Bùi Ngọc T kết quả: chất bột màu trắng trong túi nilon thứ nhất có khối lượng 0,11 gam ký hiệu M1; chất bột màu trắng trong túi nilon thứ hai có khối lượng 0,105 có ký hiệu M2 gửi đi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 556/KL-KTHS-MT ngày 5/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1064 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1032 gam là ma túy. Tổng khối lượng chất bột màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2 là 0,2096 gam. Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2 đều là ma túy loại Heroine. Heroine có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H1 lại đối tượng giám định gồm chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng là 0,0620 gam, ký hiệu M2 có khối lượng là 0,0630 gam, đều là ma tuý, loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 03/08/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Ngọc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Attila màu đen biển kiểm soát 35N5-9235 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra T khai mua chiếc xe mô tô trên của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bến xe khách Ninh Bình nhưng không có giấy đăng ký xe và giấy tờ mua bán. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này có đăng ký mang tên Lại Thị C sinh năm 1973, trú tại phố T, phường T, thành phố N, chị C khai báo đã bán chiếc xe này cho một người đàn ông không quen biết vào khoảng cuối năm 2020. Do chưa xác định được chủ sở hữu của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Attila màu đen biển kiểm soát 35N5-9235 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe này để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/06/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu; 01khẩu trang mầu trắng.

Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Ngọc T không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Bùi Ngọc T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người làm chứng. Như vậy đủ căn cứ kết luận Khoảng 09 giờ ngày 28/6/2023, tại khu vực thôn T, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, Bùi Ngọc T có hành vi cất giữ trái phép 0,2096 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo lại không từ bỏ ma túy, tu dưỡng rèn luyện, để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn đi vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi quết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bà Nguyễn Thị D là mẹ đẻ bị cáo có đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo là thương binh là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giúp bị cáo nhận thức tác hại và từ bỏ ma túy đồng thời cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Bùi Ngọc T tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[2] Các vấn đề khác:

  • - Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Bùi Ngọc T khai nhận mua của một người nam thanh niên có quen biết từ trước nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để xác minh làm rõ.
  • - Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan công an thu giữ của bị cáo Bùi Ngọc T 01 gói chất bột màu trắng khối lượng 0,1064 gam và 1 gói có khối lượng 0,1032 gam, tổng khối lượng chất bột màu trắng gửi giám định là 0,2096 gam là ma túy loại Heroine. Sau khi giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định 1 gói khối lượng là 0,0620 gam, 1 gói khối lượng là 0,0630 gam, đều là ma tuý, loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu đây là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 khẩu trang không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với chiếc xe máy đã thu giữ của Bùi Ngọc T, cơ quan công an đã tách phần liên quan đến chiếc xe này để tiếp tục điều tra, xử lý sau, vì vậy HĐXX không đặt ra xem xét.

[3] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc T 21 (Hai mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma tuý là H còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong trong phong bì ghi “ Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 556/KL-KTHS-MT; 01 khẩu trang y tế trong phong bì kí hiệu A1.

(Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Ngọc T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TANDTỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Ninh Bình;
  • - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình;
  • - Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo;
  • -Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Việt Thanh

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Phạm Ngọc Lợi – Phạm Thị Ngọc Nga

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Việt Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 98/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T phạm tội theo khoản 1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger