Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/DS-ST

Ngày: 25/7/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Trung Nghĩa

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 413/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N;

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Thanh H là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022) (ông H có mặt).

Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Bà Võ Thị H1; sinh năm: 1955 (có mặt)

Địa chỉ: Số E, Ấp X, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lâm Văn S; sinh năm: 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Số E, Ấp X, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bà Lâm Thị P; sinh năm: 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số E, Ấp X, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02/10/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Trần Thanh H trình bày:

Ngày 21/03/2019, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng với bà Võ Thị H1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900366. Theo Hợp đồng, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng cho bà Võ Thị H1 vay số tiền 480.000.000 đồng; mục đích vay: Nuôi tôm.; lãi suất 10,5%/ năm; thanh toán trả lãi hàng quý, trả nợ gốc theo phân kỳ 12 tháng/kỳ; thời hạn vay là 60 tháng. Hiện tại đã quá hạn trả nợ 04 phân kỳ trả gốc: 15/03/2020; 15/03/2021; 15/03/2022; 15/03/2023.

Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng các Hợp đồng thế chấp sau:

Hợp đồng thế chấp tài sản số LCP201000935 ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 21/03/2019 được ký kết giữa bà Võ Thị H1, ông Lâm Văn S và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 158901, có diện tích 17.800m² (loại đất: 1L), thửa số 25; tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp X, xã H, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (Nay là ấp X, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.), do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là UBND thị xã V) cấp cho hộ bà Võ Thị H1 ngày 06/06/1998.

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số LCP201000936/HĐTC ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 02/HĐSĐBS ngày 21/03/2019 được ký kết giữa bà Võ Thị H1, bà Lâm Thị P và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 173202, có diện tích 25693 m2 (loại đất: 1L), thửa số 24, 30; tờ bản đồ số 05, tọa lạc ấp X, xã H, huyện V, tỉnh Sóc Trăng (Nay là ấp X, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.), do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng cấp cho hộ Bà Lâm Thị P ngày 01/05/1996.

Tính đến hết ngày 02/10/2023, bà Võ Thị H1, ông Lâm Văn S nợ tại Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V là: Nợ gốc: 480.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 127.943.014 đồng, nợ lãi quá hạn: 45.279.123 đồng.

Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu bà Võ Thị H1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900366 ngày 21/3/2019, yêu cầu Bà Võ Thị H1, Ông Lâm Văn S thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LCP201000935 ngày 10/11/2010 và bà Lâm Thị P theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số LCP201000936/HĐTC ngày 10/11/2010. Tuy nhiên, bà Võ Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng N nên ngân hàng yêu cầu:

Buộc bà Võ Thị H1, ông Lâm Văn S phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900366 ngày 21/03/2019 cho đến ngày thực tế bà Võ Thị H1, ông Lâm Văn S trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.

Trong trường hợp bà Võ Thị H1 và ông Lâm Văn S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của bà H1, ông S, bà P theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Ngân hàng N rút một phần yêu cầu khởi kiện, phía ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LCP201000935 ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 21/03/2019; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số LCP201000936/HĐTC ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 02/HĐSĐBS ngày 21/03/2019; không yêu cầu ông Lâm Văn S cùng liên đới với bà Võ Thị H1 trả nợ cho ngân hàng và yêu cầu cụ thể như sau:

Buộc bà Võ Thị H1, thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền tính đến ngày 25/7/2024 là 716.104.767 đồng (trong đó: Nợ gốc: 480.000.000 đồng, lãi trong hạn: 172.859.178 đồng, lãi quá hạn: 63.245.589 đồng) và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900366 ngày 21/03/2019, kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi bà Võ Thị H1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn bà Võ Thị H1 trình bày: Bà thừa nhận có vay Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã V số tiền nợ gốc 480.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900366 ngày 21/3/2019 và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền nêu trên.

Tại phiên tòa, ông Lâm Văn S trình bày: Ông có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bà Võ Thị H1 vay vốn ngân hàng, ông thống nhất về việc ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và không yêu cầu ông liên đới cùng bà Võ Thị H1 trả nợ.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Văn S đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thị P được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt đối với bà P. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Võ Thị H1 phải trả nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 716.104.767 đồng (trong đó: Nợ gốc: 480.000.000 đồng, lãi trong hạn: 172.859.178 đồng, lãi quá hạn: 63.245.589 đồng) và bà H1 phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi bà H1 thanh toán hết nợ. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LCP201000935 ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 21/03/2019; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số LCP201000936/HĐTC ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 02/HĐSĐBS ngày 21/03/2019 và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc yêu cầu ông Lâm Văn S cùng liên đới với bà Võ Thị H1 trả nợ cho ngân hàng. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là bà Võ Thị H1 có địa chỉ tại ấp X, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị P đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LCP201000935 ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 21/03/2019; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số LCP201000936/HĐTC ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 02/HĐSĐBS ngày 21/03/2019 và không yêu cầu ông Lâm Văn S cùng liên đới với bà Võ Thị H1 trả nợ cho ngân hàng. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LCP201000935 ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 21/03/2019; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số LCP201000936/HĐTC ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 02/HĐSĐBS ngày 21/03/2019 và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc yêu cầu ông Lâm Văn S cùng liên đới với bà Võ Thị H1 trả nợ cho ngân hàng.

[4] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn bà Võ Thị H1 tại Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900366 ngày 21/3/2019 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 10,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, bà H1 còn nợ lại tiền nợ gốc là 480.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán kể từ ngày 16/3/2020 cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn bà Võ Thị H1 thanh toán nợ nhưng bà H1 vẫn không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn bà Võ Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N yêu cầu bị đơn bà Võ Thị H1 phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày bà H1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ đến ngày xét xử 25/7/2024 số tiền là 716.104.767 đồng (trong đó: Nợ gốc: 480.000.000 đồng, lãi trong hạn: 172.859.178 đồng, lãi quá hạn: 63.245.589 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900366 ngày 21/3/2019 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N được chấp nhận nên bị đơn bà Võ Thị H1 phải chịu án phí. Tuy nhiên, bà H1 thuộc trường hợp là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Võ Thị H1.
  2. Buộc bị đơn bà Võ Thị H1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N số tiền 716.104.767 đồng (trong đó: Nợ gốc: 480.000.000 đồng, lãi trong hạn: 172.859.178 đồng, lãi quá hạn: 63.245.589 đồng). Bà Võ Thị H1 phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201900366 ngày 21/3/2019 mà hai bên đã ký kết cho đến khi bà H1 thanh toán hết nợ.

  3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số LCP201000935 ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 21/03/2019; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số LCP201000936/HĐTC ngày 10/11/2010 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 02/HĐSĐBS ngày 21/03/2019 và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về việc yêu cầu ông Lâm Văn S cùng liên đới với bà Võ Thị H1 trả nợ cho ngân hàng.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Võ Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng bà là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
    • - Nguyên đơn ngân hàng N và P1 triên Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N và P1 triên Nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.064.443 đồng theo biên lai thu số 0000337 ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 98/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger