Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM GIANG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày: 24/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Vần và bà Lê Thị Phương Thuận

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mùng - Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hồ Hải H, sinh năm 1992. Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Thôn L, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Hồ Đình T, sinh năm 1966 và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1965 (đã chết). Tiền án: Bản án số 13/2010/HSST ngày 22/6/2010 Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/01/2011, chưa chấp hành án phí); Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/8/2024 đến ngày 07/8/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1958 và bà Phạm Thị T2, sinh năm 1958; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ ba; có vợ là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991; có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/8/2024 đến ngày 07/8/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C; có mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1967, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồ Hải H và Nguyễn Văn T1 là bạn bè xã hội và đều là người sử dụng ma túy tổng hợp. Khoảng 08 giờ ngày 04/08/2024, T1 đến phòng trọ số 01 của H thuê của ông Nguyễn Quang K, sinh năm 1962, ở thôn L, thị trấn L, huyện C chơi. Tại đây, H rủ T1 góp tiền mua ma tuý về cùng sử dụng thì T1 đồng ý và đưa cho H 150.000 đồng. Sau đó, T1 đi về còn H đi xe ôtô khách đến khu vực ngã tư U, thuộc xã K, huyện K gặp và mua của một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) 01 túi ma túy đá với số tiền 300.000 đồng và được người này cho 01 nỏ thuỷ tinh để sử dụng ma tuý. Trên đường về phòng trọ, H sử dụng sim điện thoại số 0984.396.xxx gọi đến sim số 0979908516 của T1, bảo T1 đến sử dụng ma tuý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T1 đến phòng trọ của H, H để nỏ thuỷ tinh và túi ma tuý lên mặt bàn, dùng bật lửa hơ nóng đầu nỏ thuỷ tinh đục 02 lỗ trên nắp chai nước (01 lỗ cắm đoạn ống hút nhựa trắng, 01 lỗ cắm nỏ thủy tinh). H đổ một phần ma tuý vào trong nỏ, dùng bật lửa đốt nỏ để H và T1 sử dụng bằng cách hút khói ma tuý qua ống hút vào miệng. Đến 11 giờ 20 phút cùng ngày, khi H và T1 đang sử dụng ma tuý thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm 01 chai nhựa, nắp chai đục 2 lỗ có gắn nỏ thủy tinh bên trong bám dính chất muội màu đen, 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 bật lửa ga); 01 điện thoại di động Oppo màu xanh đen, lắp sim số 0369778500 và số 0984396726 của H và điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh, lắp sim số 0979908516 của T1.

* Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu tìm chất ma túy đối với Hồ Hải H và Nguyễn Văn T1 đều dương tính với M.

* Kết luận giám định số 943/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Tìm thấy dấu vết chất ma tuý Methamphetamine trong bầu nỏ thuỷ tinh; Chất tinh thể màu trắng trong gói nilon có khối lượng 0,19 gam là ma tuý loại Methamphetamine.

* Về vật chứng vụ án: Đối với 0,10gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định, 01 gói nilon màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và 02 điện thoại di động được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng để xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Tại Cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Hồ Hải H và Nguyễn Văn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả xét nghiệm chất ma túy và kết luận giám định nêu trên, đồng thời thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật được nêu trong nội dung bản Cáo trạng là hoàn toàn đúng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Hồ Hải H và Nguyễn Văn T1, phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Hải H. Xử phạt: Bị cáo Hồ Hải H từ 28 (Hai mươi tám) đến 32 (Ba mươi hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ ngày 04/8/2024. Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 25 (Hai mươi lăm) đến 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ ngày 04/8/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 gói nilon màu trắng, 01 chai nhựa, nắp chai đục hai lỗ có gắn nỏ (cóng) thủy tinh, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 bật lửa gas, sim điện thoại số 0369.778.xxx, 0984396726, 0979908516 1; Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước giá trị điện thoại di động Oppo màu xanh đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt quả tang, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 11 giờ 20 phút ngày 04/8/2024 tại phòng trọ của Hồ Hải H, ở thôn L, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương, H và Nguyễn Văn T1 đã có hành vi chuẩn bị ma tuý Methamphetamine, địa điểm, dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang thu giữ 0,19g Methamphetamine và các vật chứng khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho các hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe về tinh thần của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo H và T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều xác định và thừa nhận Hồ Hải H là người khởi xướng, trực tiếp mua ma tuý, chuẩn bị địa điểm và dụng cụ sử dụng ma túy nên giữ vai trò thứ nhất, Nguyễn Văn T1 đồng phạm giữ vai trò thứ hai.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Hồ Hải H đã bị Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản thể hiện tại bản án số 13/2010/HSST ngày 22/6/2010 (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/01/2011, chưa chấp hành án phí), xác định bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, coi thường pháp luật nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xem xét đánh giá vị trí vai trò của từng bị cáo, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo đã thực hiện.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động Oppo màu xanh đen của H và điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh của T1. Xét các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ nhà nước;

- Đối với các sim số 0369778500; 0984396726 của H và sim số 0979908516 của T1, các bị cáo đều xác định trong tài khoản các sim nêu trên không còn tiền, cần tịch thu tiêu hủy theo qui định của pháp luật;

- Đối với vật chứng là 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm 01 chai nhựa, nắp chai đục 2 lỗ có gắn nỏ thủy tinh bên trong bám dính chất muội màu đen, 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 bật lửa ga) là những dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy cần tịch thu cho tiêu hủy.

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác:

- Quá trình điều tra không xác định được tên, địa chỉ của người đàn ông bán ma tuý cho H nên không có căn cứ xử lý;

- Ông Nguyễn Quang K là chủ nhà trọ nhưng không biết việc H sử dụng ma tuý tại phòng trọ nên không có căn cứ xử lý.

- Đối với 0,19gam ma tuý Methamphetamine, Hồ Hải H và Nguyễn Văn T1 khai nhận nếu không bị bắt sẽ sử dụng hết, do vậy không có căn cứ xử lý các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T1 và Hồ Hải H, ngày 13/8/2024 Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 255; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với các bị cáo Hồ Hải H và Nguyễn Văn T1; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo H.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Hải H và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt Hồ Hải H 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/8/2024.

- Xử phạt Nguyễn Văn T1 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/8/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Realme, tình trạng: Cũ đã qua sử dụng và 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, tình trạng: Cũ đã qua sử dụng;

3.2. Tịch thu tiêu hủy sim số 0369778500; 0984396726 của H và sim số 0979908516 của T1 (đều hết tiền trong tài khoản sim);

3.3. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn lại sau giám định PC09-TP Hải Phòng bên trong có: 01 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 01 gói nilon màu trắng chứa ma túy (còn nguyên niêm phong); 01 bật lửa ga, tình trạng: Cũ đã sử dụng; 01 chai nhựa nắp chai đục 2 lỗ, 01 lỗ có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng.

(Tình trạng và đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng).

4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo (H, T1) phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo (H, T1) được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng,
  • - VKSND huyện Cẩm Giàng,
  • - Công an huyện Cẩm Giàng (CQCSĐT; CQ THA hình sự, Bộ phận HS nghiệp vụ);
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng,
  • - VKSND tỉnh Hải Dương,
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Nhà tạm giữ- Công an huyện Cẩm Giàng,
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương,
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TA cấp cao tại HN
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Luu VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trương Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Hải Hiệp + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger