Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/HSST

Ngày 24/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Nguyên

2. Bà Vũ Thị Ngọc Phan

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2023/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: Lương Thị H; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không.
  • - Sinh ngày 18 tháng 9 năm 1993, tại Thái Nguyên.
  • - Nơi ĐKTT: Xóm Đồng Tân, xã Tân Kim, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
  • Nơi ở: Tổ dân phố Mãn Chiêm, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Lương Triệu N (đã chết); Con bà: Mông Thị X, sinh năm: 1962; Gia đình có 08 người con, bị cáo là con út trong gia đình (trong đó có 06 người con cùng cha khác mẹ); Chồng: bị cáo có chồng cũ là Nguyễn Văn H1, sinh năm 1992 (đã ly hôn năm 2018). Chồng hiện tại là Dương Hữu Q, sinh năm 1990; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012 (là con chung với Nguyễn Văn H1), con nhỏ sinh năm 2020 (là con chung với Dương Hữu Q)

Tiền án; tiền sự, nhân thân: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2023 đến nay); (Có mặt tại phiên tòa).

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1968; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Nơi ĐKTT: Tổ 5, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên;
  • Chỗ ở: Tổ dân phố Mãn Chiêm, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  • * Người làm chứng: Ông Dương Văn T, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Xóm Trung, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • * Người chứng kiến: Ông Đỗ Trọng H2, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Tổ B, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 45 phút ngày 22/3/2023, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra về tội phạm ma tuý, Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang đối tượng Lương Thị H có biểu hiện cất giấu trái phép chất ma tuý, qua kiểm tra H tự giác giao nộp 01 túi nilon màu cam có viền kẻ trên miệng túi màu đen một mặt in nhiều hình vẽ màu đen, bên trong chứa chất tinh thể dạng đá và 02 viên nén hình trụ trong màu đỏ hồng được H lấy ra từ vỏ bao thuộc lá nhãn hiệu Sài Gòn màu bạc được H cất giấu trong túi quần bên trái phía trước H đang mặc, theo H khai đây là ma túy do H mua về và đang chuẩn bị bán cho Dương Văn T, khi chưa kịp giao ma túy cho T thì bị phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu bạc, đã qua sử dụng và tạm giữ 01 xe điện màu đỏ đen. Tiến hành kiểm tra đối với Dương Văn T không phát hiện thu giữ gì.

Ngày 22/3/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện P thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của H

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất tinh thể dạng đá thu giữ của Lương Thị H có khối lượng là: 0,126 gam (đã trừ bì), 02 viên nén có khối lượng 0,182 gam. Lấy toàn bộ số chất tinh thể dạng đá cho vào bì niêm phong kí hiệu A1, 02 viên nén hình trụ cho vào bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 538/KL-KTHS ngày 30/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Số chất tinh thể dạng đá trong bì niêm phong kí hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,126 gam; 02 viên nén hình trụ trong màu đỏ hồng trong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,182 gam

Tại Cơ quan điều tra, Lương Thị H khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 22 tháng 3 năm 2023, H một mình đi xe điện màu đỏ đen từ nhà nghỉ T3 thuộc tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên ra khu công nghiệp Đ để tìm mua ma tuý mang đi bán cho Dương Văn T kiếm lời, khi đến nơi H gặp một người nam giới tên Đ (không biết lai lịch cụ thể) và hỏi mua của người này 200.000₫ ma túy “đá” và 200.000đ ma túy “Hồng phiến”, tổng cộng là 400.000đ. Người này đồng ý và đưa cho H 02 túi nilon màu trắng, 01 túi chưa ma túy đá và 01 túi chứa ma túy hồng phiến. Mua xong H đổ số ma tuý này vào 01 túi nilon màu cam có viền kẻ trên miệng túi màu đen, một mặt có in nhiều hình vẽ màu đen và vứt 02 túi nilon màu trắng đi, sau đó giấu túi ma túy vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “SAIGON” và cất trong túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi xe về khu vực xóm T, xã Đ, huyện P để gặp và bán ma túy cho T số ma túy trên với giá 500.000đ . Khi gặp, H chưa kịp bán ma túy cho T thì bị tổ công tác Công an huyện P làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngoài ra H còn khai nhận trước đó đã bán ma túy cho Dương Văn T 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 13 giờ ngày 21/3/2023, tại khu vực gần cổng khu công nghiệp Đ, H đã bán cho tuấn 300.000đ ma túy, trong đó 200.000₫ ma túy đá và 100.000₫ ma túy hồng phiến. Anh T1 trả H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ.

Lần 2: Khoảng hơn 20 giờ ngày 21/3/2023, tại khu vực gần cổng khu công nghiệp Đ, H đã bán cho tuấn 300.000đ ma túy, trong đó 200.000₫ ma túy đá và 100.000đ ma túy hồng phiến. Anh T1 đã trả H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000đ. Lần này, T1 có đi cùng 01 người đàn ông lạ mặt, H không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu.

Tại cơ quan điều tra, Dương Văn T khai nhận: T đã mua ma túy của H nhiều lần, cụ thể: Ngày 21/3/2023 mua của H 02 lần, mỗi lần 200.000₫ ma túy đá và 100.000đ ma túy hồng phiến. Ngày 22/3/2023 T có thỏa thuận mua ma túy của H nhưng chưa kịp giao, nhận ma túy thì bị công an phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A1 (bên trong có 0,026 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu).
  • - 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A2 (bên trong có 0,082 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu).
  • - 01(một) bì niêm phong ký hiệu B1 (bên trong chứa 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc đã qua sử dụng).
  • - 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiếu “SAIGON” cũ, đã sử dụng.
  • - 01 xe điện màu đỏ, đen cũ, đã qua sử dụng có số máy L48V350W2210003210.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKSPB ngày 18/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lương Thị H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Thị H khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng, không oan, sai.

- Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Lương Thị H từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000₫

+ Về vật chứng: Xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A1 (bên trong có 0,026 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu); 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A2 (bên trong có 0,082 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu); 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiếu “SAIGON” cũ, đã sử dụng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu bạc đã qua sử dụng;

Truy thu số tiền bị cáo thu lời bất chính là 200.000đ;

Hoàn trả bà Đỗ Thị L 01 xe điện màu đỏ, đen cũ, đã qua sử dụng có số máy L48V350W2210003210.

+ Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòabị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của bị cáo Lương Thị H tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ xác định: Trong các ngày 21/3/2023 và 22/3/2023 tại khu vực cổng khu công nghiệp Đ thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên Lương Thị H đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy 03 lần, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 13 giờ ngày 21/3/2023, tại khu vực gần cổng khu công nghiệp Đ, H đã bán cho T 300.000đ ma túy, trong đó 200.000₫ ma túy đá và 100.000₫ ma túy hồng phiến. Anh T1 đã trả H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ.

Lần 2: Khoảng hơn 20 giờ ngày 21/3/2023, tại khu vực gần cổng khu công nghiệp Đ, H đã bán cho tuấn 300.000đ ma túy, trong đó 200.000₫ ma túy đá và 100.000₫ ma túy hồng phiến. Anh T1 đã trả H 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và 02 tờ tiền mệnh giá 50.000đ. Lần này, T1 có đi cùng 01 người đàn ông lạ mặt, H không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu.

Số tiền H thu lời trong 02 lần bán ma túy cho T1 là 200.000₫

Lần 3: Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 22/3/2023 tại khu vực cổng khu công nghiệp Đ thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên Lương Thị H có hành vi tàng trữ 0,126 gam ma túy dạng đá loại Methamphetamine; 02 viên nén hình trụ tròn màu đỏ hồng là chất ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,182 gam để bán cho Dương Văn T kiếm lời thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về tội phạm ma túy Công an huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Lương Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Nội dung điều 251 quy định:

“1. Người nào mua bán chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;”.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lương Thị H vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết phạm tội hai lần trở lên là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.

[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Tuy nhiên bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về hình phạt bổ sung; Bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[5]. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng là 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A1 (bên trong có 0,026 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu); 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A2 (bên trong có 0,082 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu); 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiếu “SAIGON” cũ, đã sử dụng là những vật liên quan đến việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là 01(một) bì niêm phong ký hiệu B1 (bên trong chứa 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc), bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước;

Đối với số tiền H thu lời trong 02 lần bán ma túy cho T là 200.000đ được xác định là tiền thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử quyết định truy thu sung quỹ nhà nước.

Đối với vật chứng là 01 xe điện màu đỏ, đen cũ, đã qua sử dụng có số máy L48V350W2210003210 của bà Đỗ Thị L không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định hoàn trả cho bà L.

[6]. Về các vấn đề khác:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

- Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, H khai mua của một người đàn ông tên Đ tại khu vực khu công nghiệp Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở làm rõ để xử lý.

Đối với Dương Văn T, tại cơ quan điều tra đã khai nhận có mua ma túy của H để sử dụng, tại thời điểm bị phát hiện số ma túy mua của H đã sử dụng hết, không thu giữ được nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã chuyển phần tài liệu có liên quan đến Công an huyện P để ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T về hành sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với bà Đỗ Thị L là người cho bị cáo Lương Thị H mượn xe điện màu đỏ, đen. Quá trình điều tra bà L khai không biết bị cáo sử dụng vào việc đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không xem xét xử lý là có căn cứ.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lương Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Lương Thị H 08 (T2) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ tạm giam là ngày 22/3/2023.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự:

Phạt bổ sung bị cáo số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo Lương Thị H 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,026 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1;
  • - 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A2 bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,082 gam mẫu A2 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A2;
  • - 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiếu “SAIGON” cũ, đã sử dụng
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01(một) bì niêm phong ký hiệu B1 (bên trong chứa 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc, cũ, số IMEI: 78463 (năm số cuối);
  • - Truy thu số tiền bị cáo thu lời bất chính là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) sung quỹ nhà nước;
  • - Hoàn trả bà Đỗ Thị L 01 xe điện có ghi nhãn hiệu IZUKI M133, màu sơn đỏ, đen, xe không có số khung, số máy phần động cơ của xe là L48V350W2210003210, xe cũ đã qua sử dụng (không có chìa khóa kem theo).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2023 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình).

Án phí:

Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Quyền kháng cáo:

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh TN;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2023/HSST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 98/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Lương Thị Hòa phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger