|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2024/HS - ST Ngày 21/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước Lộc và ông Ngô Rạng Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Vĩ K (tên gọi khác: H), giới tính nam, sinh ngày 14/02/2001, tại huyện C - An Giang. Nơi cư trú: Ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang (nơi ở hiện tại: Khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang). Số CMND/CCCD: [...], cấp ngày 07/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn C (sinh năm: 1980, còn sống) và bà Nguyễn Thị Thu H1 (không rõ năm sinh); anh chị em có 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 05/10/2023 và chuyển tạm giam từ ngày 10/10/2023 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Anh Lê Văn B, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt)
* Người làm chứng: Anh Trần Thành Đ, sinh ngày 01/01/2005. Địa chỉ: Khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 03/10/2023, Nguyễn Vĩ K cùng với Trần Thành Đ và Nguyễn Văn Đ1 đến quán “anh B1” thuộc ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang để uống bia. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh Lê Văn B điều khiển xe mô tô chạy đến quán nhậu, lúc này K kêu anh B đến ngồi uống bia chung bàn. Sau đó, K và Thành Đ đi vệ sinh, K rủ Thành Đ “dụ B để lấy điên thoại” thì Thành Đ không đồng ý và trả lời “điện thoại của người ta mà lấy gì”. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, để thực hiện hành vi nên K kêu anh B điều khiển mô tô chở K và Thành Đ đi đường ven biển về khách sạn S, anh B đồng ý. K rủ Thành Đ cùng đi, Thành Đ nghĩ rằng K đi hướng bãi biển để ngủ nên đồng ý đi, anh B điều khiển xe mô tô chở cả hai đi đường ven biển, khi đến đoạn đường khách sạn S thuộc tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P thì K kêu dừng xe lại. Lúc này khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, K xuống xe kêu anh B đưa điện thoại, anh B không đồng ý nên K đe dọa lấy dao đâm, rồi K đưa tay vào cặp đang đeo trên người thực hiện hành vi giống như lấy dao nhưng không có dao, anh B tưởng có dao sợ bị đâm nên đưa cho K 01 điện thoại đi động hiệu XIAOMI 12, còn Thành Đ sợ bị K đâm nên không dám can ngăn.
Sau đó, K kêu anh B điều khiển xe quay trở lại quán anh B1 để rước Văn Đ2 thì K sẽ trả lại điện thoại nên anh B điều khiển xe chạy đi, còn K và Thành Đ đi bộ đến khu phố G, phường D để ngủ. Sau khi anh B chở Văn Đ2 đến nơi thì không phát hiện K và Thành Đ nên anh B trình báo Công an xã D Đến 08 giờ ngày 04/10/2023, Thành Đ đến C1 anh xã D tố giác hành vi của K.
Sau khi tiếp nhận tố giác về tội phạm, Công an xã D mời K về trụ sở làm việc, K tự nguyện giao nộp lại điện thoại đã cướp của anh B. Ngày 10/10/2023, Nguyễn Vĩ K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:
- 01 điện thoại di động hiệu XIAOMI 12 màu bạc, mặt lưng bị bể kính;
- 01 áo vải màu đen vàng, đã qua sử dụng;
- 01 áo thun màu đen, đã qua sử dụng;
- 01 quần sọt vải màu đen, đã qua sử dụng;
- 01 túi vải màu đen có dây đeo, đã qua sử dụng.
* Kết luận định giá về tài sản số 118/KL-HđĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố P kết luận như sau: 01 điện thoại di động hiệu XIAOMI 12 màu bạc, mặt lưng bị bể kính, mua mới và sử dụng từ tháng 6/2023, tại thời điểm tháng 10/2023 có giá trị là 1.800.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng:
- Đã giao trả lại cho anh Lê Văn B 01 điện thoại di động hiệu XIAOMI 12 màu bạc, mặt lưng bị bể kính.
- 01 áo vải màu đen vàng, đã qua sử dụng; 01 áo thun màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần sọt vải màu đen, đã qua sử dụng và 01 túi vải màu đen có dây đeo, đã qua sử dụng. Tất cả đã nhập kho vật chứng theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 60/QĐ – VKSPQ ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc.
* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 85/CT-VKSPQ ngày 02/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Vĩ K về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Đối với anh Trần Thành Đ không biết Nguyễn Vĩ K đi cướp tài sản nên đi chung xe mô tô với K. Sau khi cướp tài sản, Đ đến Công an tố giác hành vi của bị cáo K nên không xử lý.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát kết luận: Bị cáo Nguyễn Vĩ K phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.
- Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Vĩ K phạm tội “Cướp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩ K từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Đối với Trần Thành Đ không biết Nguyễn Vĩ K đi cướp tài sản nên đi chung xe mô tô với K, sau khi K cướp tài sản, Thành Đ đến Công an tố giác hành vi của K, nên không xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Lê Văn B đã nhận lại tài sản bị cướp, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho anh Lê Văn B 01 điện thoại di động hiệu XIAOMI 12, màu bạc, mặt lưng bị bể kính.
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị HĐXX tịch thu, tiêu hủy 01 áo vải màu đen vàng, đã qua sử dụng; 01 áo thun màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần sọt vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi vải màu đen có dây đeo, đã qua sử dụng do bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị để sử dụng. Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 60/QĐ – VKSPQ ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo Nguyễn Vĩ K: Thừa nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- Bị hại anh Lê Văn B: Vắng mặt tại phiên tòa, không có lời trình bày.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân bị cáo gây ra, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận dịnh như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy bị hại đã có lời khai, đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, HĐXX xét xử vắng mặt bị hại.
[3] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Vĩ K tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 23 giờ 50 phút, ngày 03/10/2023, tại đoạn đường gần khách sạn S thuộc tổ C, ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang Nguyễn Vĩ K đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc để cướp tài sản của anh Lê Văn B 01 cái điện thoại di động trị giá 1.800.000 đồng. Đến ngày 10/10/2023, Nguyễn Vĩ K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, bắt tạm giam để điều tra.
Do đó, HĐXX có cơ sở khẳng định Cáo trạng số 85/CT-VKSPQ ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Vĩ K về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại, bị cáo đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc để cướp tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây bất bình trong nhân dân nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện có khung hình phạt từ 03 đến 10 năm tù nên cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Đồng thời cũng nhằm để răn đe, cảnh tỉnh chung đối với mọi người có ý thức tuân thủ pháp luật và tôn trọng tài sản hợp pháp của người khác.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng cũng như việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo K phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vĩ K phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 68 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩ K 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 05/10/2023)
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy gồm: 01 áo vải màu đen vàng, đã qua sử dụng; 01 áo thun màu đen, đã qua sử dụng; 01 quần sọt vải màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi vải màu đen có dây đeo, đã qua sử dụng.
Theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 60/QĐ – VKSPQ ngày 02/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Vĩ K chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 21/6/2024).
Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Thị Cẩm Lình |
Bản án số 98/2024/HS - ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (cướp tài sản)
- Số bản án: 98/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Vĩ Khang về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.
