|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2025/HS-ST Ngày: 06 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Thị Liễu
2. Bà Hồ Thị Ngân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giang Thị Cẩm L, sinh ngày 19/5/1982; tại: Rạch G, An Giang.
Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số A đường N, phường R, tỉnh An Giang.
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giang Văn T (đã chết) và bà Trần Kim L1 (đã chết); bị cáo có chồng là Nguyễn Huy H, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và 01 người con (sinh năm 2015).
Tiền sự: Chưa
Tiền án: Chưa
Từ tháng 9 năm 2024 đến ngày 21/10/2024, Giang Thị Cẩm L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 19/6/2025 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 1247/LC-VPCQCSĐT ngày 19/6/2025.
(Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Bà Bùi Thị Kim V, sinh năm 1968 (Có mặt)
Địa chỉ: Số A đường L, phường R, tỉnh An Giang.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số I đường V, phường R, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giang Thị Cẩm L (là người giúp việc nhà cho gia đình bà Bùi Thị Kim V), trong thời gian làm việc cho bà V tại nhà số A đường L, phường R, tỉnh An Giang, L thấy bà V thường cất nữ trang các loại trong tủ trong phòng ngủ nhưng không khóa nên L nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của bà V bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024, lợi dụng lúc bà V đi làm vắng nhà L đã 07 lần trộm cắp tài sản của bà V, cụ thể:
- - Ngày 06/9/2024, L vào phòng ngủ của bà V, mở tủ quần áo tìm tài sản lấy trộm thì thấy có một túi xách nữ, bên trong có nhiều nữ trang bằng vàng, L lấy trộm 01 (một) bộ vòng ximen vàng 18k gồm 07 chiếc, trọng lượng 01 lượng 04 chỉ sau khi lấy trộm L đem tài sản về nhà L tại địa chỉ số A N, phường R, tỉnh An Giang cất giấu, vài ngày sau (không nhớ rõ ngày) L đem tài sản trộm được bán cho Nguyễn Thanh T1 (chủ tiệm V1 đường P, phường R) được 51.000.000 đồng.
- - Ngày 14/9/2024, Liên tiếp T2 vào phòng ngủ của bà V, mở túi xách trong tủ quần áo lấy trộm tài sản gồm: 02 (hai) nhẫn vàng 18K, mỗi chiếc có trọng lượng vàng 1,2 chỉ; 01 (một) nhẫn vàng hồng 14K, trọng lượng 10 phân 692 (1,692 chỉ), 01 đôi bông tai vàng trắng 10K, trọng lượng vàng 6 phân 0 ly 3 dem 8 khía (0,6038 chỉ); 01 đôi bông tai vàng 18K, trọng lượng 01 chỉ. Sau đó, L đem tài sản trộm được về nhà cất giấu, vài ngày sau L đem toàn bộ tài sản trộm được đến bán ở tiệm V1 (không biết tên người mua), nhưng không nhớ bán được bao nhiêu tiền.
- - Ngày 23/9/2024, Liên tiếp tục mở túi xách trong tủ quần áo trong phòng ngủ của bà V lấy trộm 01 chiếc vòng vàng 18K, trọng lượng 03 chỉ, đã qua sử dụng: 01 lắc đeo chân vàng trắng (không xác định được trọng lượng); 01 (một) dây chuyền vàng 18K, đặc điểm dây chuyền sợi mi, trọng lượng 1,38 chỉ, trọng lượng mặt dây chuyền là 3 phân 7 vàng 18K; 01 (một) dây chuyền vàng trắng (Italy), đặc điểm dây chuyền dây M, trọng lượng vàng 04 gam 38 (4,38g); 01 dây chuyền vàng 18K (vàng 7 tuổi), trọng lượng dây chuyền 1,404 chỉ, vàng mặt dây chuyền trọng lượng 0,5 phân; 01 (một) dây chuyền vàng 18K, trọng lượng dây chuyền 03 chỉ, vàng mặt dây chuyền 05 phân, sau khi lấy trộm được tài sản Liên tiếp tục đem về nhà cất giấu, vài ngày sau L đem 02 (hai) dây chuyền vàng 18K, 01 dây chuyền vàng trắng (Italy), đến bán ở tiệm V1 (không biết tên người mua), không nhớ bán được bao nhiêu tiền, còn lại 02 (hai) dây chuyên vàng 18K, L cất giữ để dành đeo trên người.
- - Ngày 30/9/2024, Liên tiếp tục vào phòng của bà V lấy trộm 01 (một) miếng vàng PNJ, loại 24K trọng lượng 01 chỉ, đem đến bán ở tiệm V1 (không biết tên người mua) được 4.000.000 đồng.
- - Ngày 07/10/2024, Liên tiếp tục vào phòng của bà V lấy trộm 01 (một) miếng vàng PNJ, loại 24K, trọng lượng là 01 chỉ, sau đó đem đến bán ở tiệm V1 (không biết tên người mua) được 4.000.000 đồng.
- - Ngày 14/10/2024, Liên tiếp tục vào phòng của bà V lấy trộm 01 (một) miếng vàng PNJ, loại 24K, trọng lượng là 01 chỉ, sau đó đem đến bán ở tiệm V1 (không biết tên người mua) được 4.000.000 đồng.
- - Ngày 21/10/2024, Liên tiếp tục vào phòng của bà V lấy trộm 01 (một) miếng vàng PNJ, loại 24K, trọng lượng là 01 chỉ, sau đó đem đến bán ở tiệm V1 (không biết tên người mua) được 4.000.000 đồng, (Bút lục số 46-48, 94-96; 98-103; 105-106; 109-114: 122-123).
Số tiền sau khi bán tài sản trộm cắp mà có, L sử dụng tiêu xài cá nhân và mua 04 vòng đeo tay, 02 lắc đeo tay, 02 chiếc nhẫn, 01 đôi bông tai bằng vàng 18K; còn lại số tiền 15.500.000 đồng, L đã giao nộp cho Cơ quan Công an. Bị hại Bùi Thị Kim V, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Cơ quan Công an trình báo. Qua làm việc Giang Thị Cẩm L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đến ngày 18/6/2025, Giang Thị Cẩm L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K khởi tố, ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra (Bút lục số 05-06, 95-96: 98-99; 102-103: 109-114).
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Việc thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng ở giai đoạn điều tra:
+ Giang Thị Cẩm L giao nộp:
- - Tiền Việt Nam: 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
- - 01 (một) nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, có gắn nhiều hột đá mặt phía trong nhẫn có ghi chữ "A-HOA" và "610".
- - 01 (một) nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, phần mặt nhẫn có hình giống chữ thập, có gắn nhiều hột đá.
- - 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, có biểu tượng hình hoa sen gần chốt gài.
- - 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ “A-HOA và "93".
- - 02 (hai) chiếc bông đeo tai bằng kim loại màu vàng, có ghi chữ “PP89".
- - 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ "610", có phần mặt dây chuyền hình tròn, có gắn nhiều hột đá.
- - 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ “A-HOA" và "610", phần mặt dây chuyền hình bầu, có gắn hột đá màu đỏ.
- - 04 (bốn) vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng, (bút lục số 05).
- Lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại nhà số A đường L, phường R, tỉnh An Giang.
+ Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã trao trả các vật chứng cho chủ sở hữu bà Bùi Thị Kim V gồm:
- - 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, có biểu tượng hình hoa sen.
- - 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ “A-HOA và "93".
- - 01 (một) nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, có gắn nhiều hột đá, mặt phía trong nhẫn có ghi chữ “A-HOA” và “610”.
- - 01 (một) nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, phần mặt nhẫn có hình giống chữ thập, có gắn nhiều hột đá.
- - 02 (hai) chiếc bông đeo tai bằng kim loại màu vàng, có ghi chữ “PP89".
- - 04 (bốn) vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng.
- - Tiền Việt Nam: 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
- - 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ “610”, có phần mặt dây chuyền hình tròn, có gắn nhiều hột đá.
- - 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ “A-HOA” và “610”, phần mặt dây chuyền hình bầu, có gắn hột đá màu đỏ.
Theo Quyết định xử lý vật chứng số 5683 ngày 27/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, (bút lục số 66-68).
* Tại bản kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS, ngày 26/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R kết luận:
- - 01 bộ vòng gồm 07 chiếc, loại 18K (vàng 7,5 tuổi), loại vòng ximen, trọng lượng 01 lượng 04 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 06/9/2024 có giá trị là 79.688.000 đồng.
- - 01 nhẫn vàng 18K (vàng 7 tuổi), trọng lượng vàng 1,2 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 14/9/2024 có giá trị là 6.270.000 đồng.
- - 01 nhẫn vàng 18K (vàng 7,5 tuổi), trọng lượng vàng 1,2 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 14/9/2024 có giá trị là 6.842.000 đồng.
- - 01 nhẫn vàng hồng 14K, trọng lượng 10 phân 692 (1,692 chỉ), đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 14/9/2024 có giá trị là 7.365.000 đồng.
- - 01 đôi bông tai vàng trắng 10K (4 tuổi 16), trọng lượng vàng 6 phân 0 ly 3 dem 8 khía (0,6038 chỉ), đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 14/9/2024 có giá trị là 1.839.000 đồng.
- - 01 đôi bông tai vàng 18K (vàng 7 tuổi), trọng lượng 01 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 14/9/2024 có giá trị là 5.225.000 đồng.
- - 01 chiếc vòng vàng 18K (vàng 7,5 tuổi), trọng lượng 03 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 23/9/2024 có giá trị là 17.151.000 đồng.
- - 01 dây chuyền vàng 18K (vàng 7 tuổi), đặc điểm dây chuyền sợi mì, trọng lượng 1,38 chỉ, trọng lượng mặt dây chuyền là 3 phân 7 vàng 18K (0,37 chỉ vàng 7 tuổi), đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 23/9/2024 có giá trị là 9.319.000 đồng.
- - 01 dây chuyền vàng trắng (Italy), đặc điểm dây chuyền dây M, trọng lượng vàng 04 gam 38 (4,38g), đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 23/9/2024 có giá trị là 4.805.000 đồng.
- - 01 dây chuyền vàng 18K (vàng 7 tuổi), trọng lượng dây chuyền 1,404 chỉ, vàng mặt dây chuyền trọng lượng 0,5 phân, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 23/9/2024 có giá trị là 10.139.000 đồng.
- - 01 dây chuyền vàng 18K (vàng 7 tuổi), trọng lượng dây chuyền 3 chỉ, vàng mặt dây chuyền 05 phân, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 23/9/2024 có giá trị là 18.638.000 đồng.
- - 01 miếng vàng PNJ, loại 24K (vàng 10 tuổi), trọng lượng là 01 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 30/9/2024 có giá trị là 8.068.000 đồng.
- - 01 miếng vàng PNJ, loại 24K (vàng 10 tuổi), trọng lượng là 01 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 07/10/2024 có giá trị là 8.093.000 đồng.
- - 01 miếng vàng PNJ, loại 24K (vàng 10 tuổi), trọng lượng là 01 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 14/10/2024 có giá trị là 8.057.000 đồng.
- - 01 miếng vàng PNJ, loại 24K (vàng 10 tuổi), trọng lượng là 01 chỉ, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá ngày 21/10/2024 có giá trị là 8.318.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản qua định giá là 199.817.000 đồng (Một trăm chín mươi chín triệu tám trăm mười bảy nghìn đồng).
Riêng đối với tài sản là 01 lắc đeo chân vàng trắng, đã qua sử dụng, hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R không định giá được do không đủ thông tin, (bút lục số 46-48)
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá nêu trên.
* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Bùi Thị Kim V yêu cầu bị cáo Giang Thị Cẩm L khắc phục số tiền 150.000.000 đồng. Bị cáo đã khắc phục xong, bị hai không yêu cầu gì khác. (Bút lục số 108, 115)
* Bản cáo trạng số: 08/CT-VKSKV1 ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang đã truy tố bị cáo Giang Thị Cẩm L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất kết quả định giá tài sản và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- - Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo hoặc phạt cải tạo không giam giữ, tạo điều kiện cho bị cáo ở ngoài lao động nuôi dạy chăm sóc con nhỏ; về trách nhiệm dân sự bị hại đã khắc phục bồi thường xong, không có yêu cầu gì khác.
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Giang Thị Cẩm L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo L mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có việc làm nhưng thu nhập không ổn định nên không đề nghị hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý trao trả vật chứng cho chủ sở hữu Theo Quyết định xử lý vật chứng số 5683 ngày 27/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, nên không đề nghị xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Bùi Thị Kim V đã nhận lại tài sản và tiền khắc phục bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo được ở ngoài nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K (Nay là Công an tỉnh A), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Giang Thị Cẩm L là người giúp việc nhà cho bà Bùi Thị Kim V. Do cần tiền tiêu xài, trong khoảng thời gian từ tháng 09 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024, lợi dụng lúc bà V đi làm vắng nhà, Giang Thị Cẩm L đã 07 lần trộm cắp tài sản của bà V tại nhà số A đường L, phường R, tỉnh An Giang. Tài sản trộm cắp gồm: 01 (một) bộ vòng ximen vàng 18K gồm 07 chiếc, trọng lượng 01 lượng 04 chỉ; 02 (hai) nhẫn vàng 18K, mỗi chiếc có trọng lượng vàng 1,2 chỉ; 01 (một) nhẫn vàng hồng 14K, trọng lượng 10 phân 692 (1,692 chỉ); 01 (một) đôi bông tai vàng trắng 10K, trọng lượng vàng 6 phân 0 ly 3 dem 8 khía (0,6038 chỉ); 01 (một) đôi bông tai vàng 18K, trọng lượng 01 chỉ; 01 chiếc vòng vàng 18K, trọng lượng 03 chỉ; 01 lắc đeo chân vàng trắng (không xác định được trọng lượng); 01 (một) dây chuyền vàng 18K, trọng lượng 1,38 chỉ, trọng lượng mặt dây chuyền là 03 phân 7 vàng 18K; 01 (một) dây chuyền vàng trắng (I), trọng lượng vàng 04 gam 38 (4,38g); 01 dây chuyền vàng 18K, trọng lượng dây chuyền 1,404 chỉ, vàng mặt dây chuyền trọng lượng 0,5 phân; 01 (một) dây chuyền vàng 18K, trọng lượng dây chuyền 03 chỉ, vàng mặt dây chuyền 05 phân; 04 (bốn) miếng vàng PNJ loại 24K, mỗi miếng có trọng lượng 01 chỉ. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt qua định giá là 199.817.000 đồng (Một trăm chín mươi chín triệu tám trăm mười bảy nghìn đồng).
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Giang Thị Cẩm L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận này của bị cáo đúng theo nội dung kết luận điều tra, nội dung bản cáo trạng; đồng thời phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận định giá cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo trộm cắp tài sản có tổng giá trị 199.817.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của bộ luật Hình sự, với khung hình phạt được quy định là “......bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”. Xét cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- An Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật; tuy nhiên vì lòng tham, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động, lợi dụng sự tin tưởng, sơ hở thiếu cảnh giác của người bị hại khi đi làm vắng nhà, bị cáo đã nhiều lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đảm bảo được tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo đã khắc phục bồi thường xong toàn bộ thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất cho bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình. Từ đó áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo một mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp quy định pháp luật.
[6] Đối với ý kiến của bị cáo và bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo: Xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, trong đó có lần phạm tội thực hiện ngày 06/9/2024 là tội phạm nghiêm trọng (Tài sản trộm cắp có giá trị 79.688.000 đồng), theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo) nên thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo. Đối với ý kiến của bị hại xin cho bị cáo hưởng mức án cải tạo không giam giữ: Xét thấy tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng nên việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[7] Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo Giang Thị Cẩm L hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe, cải tạo bị cáo, qua đó đảm bảo được tính phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động làm thuê, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung quy định định tại khoản 5 Điều Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Đối với 01 (một) đĩa DVD ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại nhà số A đường L, phường R, tỉnh An Giang, được lưu kèm theo hồ sơ vụ án;
- - Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã trao trả các vật chứng cho chủ sở hữu là bà Bùi Thị Kim V gồm:
- + 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, có biểu tượng hình hoa sen.
- + 01 (một) lắc đeo tay bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ “A-HOA và "93".
- + 01 (một) nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, có gắn nhiều hột đá, mặt phía trong nhẫn có ghi chữ “A-HOA” và “610”.
- + 01 (một) nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, phần mặt nhẫn có hình giống chữ thập, có gắn nhiều hột đá.
- + 02 (hai) chiếc bông đeo tai bằng kim loại màu vàng, có ghi chữ “PP89".
- + 04 (bốn) vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng.
- + Tiền Việt Nam: 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
- + 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ “610”, có phần mặt dây chuyền hình tròn, có gắn nhiều hột đá.
- + 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, phần chốt gài có ghi chữ “A-HOA” và “610”, phần mặt dây chuyền hình bầu, có gắn hột đá màu đỏ.
Theo Quyết định xử lý vật chứng số 5683 ngày 27/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K (bút lục số 66-68). Không ai có ý kiến đối với quyết định xử lý vật chứng nêu trên, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Bùi Thị Kim V đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường khắc phục hậu quả, ngoài ra không có yêu cầu gì khác, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Tuyên bố bị cáo Giang Thị Cẩm L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Giang Thị Cẩm L 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- - Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại nhà số A đường L, phường R, tỉnh An Giang.
- * Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
- Buộc bị cáo Giang Thị Cẩm L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- * Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/11/2025).
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Yến |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Đoàn Thị Liễu Hồ Thị Ngân |
Huỳnh Kim Yến |
Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 98/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Giang Thị Cẩm L phạm tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS
