|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2025/HS-ST Ngày: 06-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Tuấn và bà Trịnh Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025; đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị K, sinh năm 1961 tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình K1 và bà Trần Thị T (đều đã chết); Bị cáo có chồng là Trần Văn N (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 1982 và 01 con sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 07-3-2003, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xử phạt 27 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18-12-2024, chuyển tạm giam từ ngày 27-12-2024 đến nay tại Trại giam công an tỉnh N; (Có mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn N1 (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 10 phút, ngày 18-12-2024 nhận được tin báo tố giác tội phạm của quần chúng nhân dân, tổ công tác Công an thành phố N tiến hành kiểm tra tại nhà của Trần Thị K ở thôn L, xã M, thành phố N thì phát hiện K và Nguyễn Văn N1 ở trong nhà có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Tiến hành kiểm tra trên người Khuyên, tổ công tác thu giữ trong cạp quần K đang mặc 01 gói ni lông màu đen, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước (7,5 x 8) cm, trong có 08 gói giấy bạc màu vàng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng; Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong ký hiệu Q1 (Khuyên khai là H mục đích mua về bán kiếm lời); thu giữ trong túi quần bên phải của K đang mặc 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (Ký hiệu là A2), 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Ký hiệu là A1 - là tiền K khai vừa bán 01 gói Heroine cho N1); A1, A2 niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu T1. Kiểm tra trên người N1, thu giữ trong túi áo khoác bên trái của N1 đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, thu giữ và niêm phong ký hiệu M2 (N1 khai là gói Heroine vừa mua của Khuyên giá 100.000 đồng chưa sử dụng hết), thu giữ trong túi áo khoác bên phải của N1 đang mặc 01 bật lửa ga bằng nhựa màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc màu trắng có bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu M1), N1 khai là dụng cụ dùng để sử dụng Heroine ở nhà K. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thị K, thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn N1, niêm phong ký hiệu N1.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị K tại thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Toàn bộ Q1, A1, A2, M1, M2, N1 đều được gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 79/KL-KTHS ngày 24-12-2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu Q1, M2 gửi giám định và mẫu bột màu trắng bám dính được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine (H). Khối lượng mẫu Q1: 0,610 gam; Khối lượng mẫu M2: 0,033 gam; Khối lượng mẫu M1: không xác định được khối lượng mẫu.
- Có tìm thấy thành phần các chất gồm M, C và 6-MAM trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 146/KL-KTHS ngày 24-12-2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Trên các mẫu vật cần giám định ký hiệu A1, A2 không phát hiện thấy dấu vết đường vân.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị K khai nhận: Khoảng 06 giờ ngày 18-12-2024, K đến khu vực đường T, phường L, thành phố N gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 09 gói Heroine với giá 800.000 đồng mang về nhà cất vào trong cạp quần đang mặc với mục đích ai hỏi mua sẽ bán với giá 100.000 đồng/ 01 gói. Đến khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, Nguyễn Văn N1 đến nhà K hỏi mua 01 gói Heroine. Khuyên nhận 100.000 đồng rồi đưa cho N1 01 gói Heroine, 08 gói Heroine còn lại K cất vào trong cạp quần đang mặc. Sau khi mua Heroine, Nam hỏi Khuyên phòng vệ sinh ở đâu thì K chỉ vào nhà vệ sinh ở trong nhà K, K không biết N1 vào trong nhà vệ sinh làm gì.
Nguyễn Văn N1 khai nhận: Nam mang sẵn 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh giấy bạc màu trắng đến nhà K, sau khi mua được 01 gói Heroine của K thì N1 hỏi K nhà vệ sinh ở đâu, khi được K chỉ nhà vệ sinh, N1 đã đi vào để sử dụng Heroine nhưng không nói cho K biết. N1 đã lấy một phần gói Heroin vừa mua được của K chia sang mảnh giấy bạc Nam đã chuẩn bị sẵn và sử dụng. Số H còn lại N1 gói vào cất đi (Là số Heroine thu giữ trong người Nam ký hiệu M2).
Tại bản cáo trạng số 100/CT-VKS- TPNĐ ngày 09-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đã truy tố Trần Thị K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Thị K khai nhận hành vi mua bán chất ma tuý với Nguyễn Văn N1 và tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán kiếm lời như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ và các vật chứng khác trong vụ án là: (Q1 + M1 + M2), N1 và 01 bật lửa ga màu đỏ; Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng; trả lại cho bị cáo K 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án (02 tờ tiền trên được niêm phong có mã số NS2 2125707 hoàn trả mẫu vật giám định của phòng K3 - Công an tỉnh N); về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Thị K nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18-12-2024; bản kết luận giám định của Phòng K3 Công an tỉnh N số 79/KL-KTHS ngày 24-12-2024; bản kết luận giám định của Phòng K3 Công an tỉnh N số 146/KL-KTHS ngày 24-12-2024; biên bản khám xét ngày 18-12-2024; vật chứng của vụ án; lời khai của bị cáo, của người làm chứng, người chứng kiến tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút, ngày 18-12-2024, tại nhà của Trần Thị K ở thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Thị K đã có hành vi bán trái phép chất ma túy Heroine cho Nguyễn Văn N1 với giá 100.000 đồng, số Heroine K2 bán cho N1 sau khi N1 sử dụng còn lại 0,033 gam; ngoài ra, Trần Thị K còn có hành vi tàng trữ trái phép 0,610 gam Heroine mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang. Tổng khối lượng mua bán trái phép chất ma túy của K là 0,643 gam (Không phảy sáu trăm bốn mươi ba gam) Heroine. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép ma tuý với mục đích bán kiếm lời của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, bị cáo Trần Thị K đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi mua bán trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó phải buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình; cần phải áp dụng loại hình phạt cũng như mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời cũng là để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về nhân thân: Bị cáo K có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có anh trai ruột là liệt sỹ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Đường lối xử lý về hành vi phạm tội của bị cáo:
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém, bị cáo 01 lần bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi môi trường ngoài xã hội một thời gian nhất định nữa thì mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi,nhằm thu lời bất chính; tuy nhiên, bị cáo có đơn xin miễn hình phạt bổ sung có xác nhận của chính quyền địa phương vì lý do bị cáo tuổi cao, công việc không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình rất khó khăn nên HĐXX không áp dung hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma tuý là vật chứng vụ án được niêm phong trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 79/KL-KTHS của Phòng K3 - Công an tỉnh N (Mẫu vật hoàn lại sau giám định là Q1 + M1 + M2): Xét các mẫu vật này thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với mẫu vật N1 gửi giám định được niêm trong 01 túi niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 79/KL-KTHS của Phòng K3 - Công an tỉnh N: Xét các mẫu vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 01 bật lửa ga màu đỏ: Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với số tiền bị thu giữ được niêm phong có mã số NS2 2125707 hoàn trả mẫu vật giám định của phòng K3 - Công an tỉnh N (Được chứa trong 01 phong bì niêm phong số 146/KL-KTHS của Phòng K3 - Công an tỉnh N) xử lý như sau:
+ Đối với 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng: Đây là số tiền bị cáo thu lời bất chính nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Đối với 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng: Đây là số tiền bị có được do lao động hợp pháp nên trả lại cho bị cáo là phù hợp nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án .
[6] Về các vấn đề khác trong vụ án:
- Đối với hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn N1: Nguyễn Văn N1 có hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma tuý, lượng ma tuý Nam tàng trữ là 0,033 gam Heroine dưới mức định lượng, Nam chưa có tiền án, tiền sự về tội phạm ma tuý nên Công an thành phố N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp đối với các hành vi trên của N1.
- Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Trần Thị K: Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được thông tin, địa chỉ đối tượng bán ma túy cho Trần Thị K nên không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị K bị kết án, tuy nhiên bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị K 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18-12-2024.
2. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy số ma tuý được niêm phong trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 79/KL-KTHS của Phòng K3 - Công an tỉnh N (Mẫu vật hoàn lại sau giám định là Q1 + M1 + M2).
- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật N1 được niêm trong 01 túi niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 79/KL-KTHS của Phòng K3 - Công an tỉnh N và 01 bật lửa ga màu đỏ.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (Số tiền trên được niêm phong có mã số NS2 2125707 hoàn trả mẫu vật giám định của phòng K3 - Công an tỉnh N được chứa trong 01 phong bì niêm phong số 146/KL-KTHS của Phòng K3 - Công an tỉnh N).
+ Trả lại cho Trần Thị K 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Số tiền trên được niêm phong có mã số NS2 2125707 hoàn trả mẫu vật giám định của phòng K3 - Công an tỉnh N được chứa trong 01 phong bì niêm phong số 146/KL-KTHS của Phòng K3 - Công an tỉnh N).
(Vật chứng có đặc điểm, chủng loại như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23-5-2025).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị K được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị K được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ninh |
Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 98/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Mua bán trái phép chất ma tuý là Heroin
