Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/HS-ST

Ngày 06-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thanh Hiên

Ông Vũ Khắc Tân

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Trương Thị Ngọc B, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1983 tại Hải Phòng; nơi ĐKTT: Tổ C Cụm E, phường Đ, quận N, Hải Phòng; nơi sinh sống: Số A T, phường Đ, quận H, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Ngọc T (đã chết) và bà Lê Bích L; có chồng là Trần Minh T1 và 04 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/02/2025; có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH A; địa chỉ trụ sở chính: Số C đường B, phường S, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Bảo L1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số A N B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng (văn bản uỷ quyền số AL/2021/087 ngày 30/8/2021); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 ngày 05/01/2025, Trương Thị Ngọc B đi một mình đến Trung tâm thương mại A1, quận L, Hải Phòng (sau đây gọi tắt là TTTM) của Công ty TNHH A để thăm quan và mua sắm. Sau khi đến TTTM, B đi vào siêu thị ở tầng 01 chọn mua một số sản phẩm hàng hoá và ra quầy thanh toán thì được nhân viên thanh toán cho các hàng hoá B mua vào túi nilon của siêu thị có dán tem đã thanh toán. Trong quá trình mua hàng và thanh toán, B thấy TTTM đông người, nhân viên quản lý lỏng lẻo nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. B tiếp tục đi chọn thêm các sản phẩm gồm: 02 khay nạm bò, 03 khay cá hồi, 03 khay chả mực Quảng Ninh, 03 khay dâu tây M, 01 khay hạt điều rang muối sau đó cho các hàng hóa vừa lấy được vào các túi nilon đựng hàng hóa đã thanh toán trước đó rồi đi ra cửa số 2 để ra bãi gửi xe thì bị lực lượng an ninh của TTTM bắt quả tang. Sau đó lực lượng an ninh đã bàn giao B cùng tang vật cho Công an quận L.

Bản kết luận định giá tài sản số 05/KL - HĐĐGTS ngày 07/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự quận L kết luận: Tổng giá trị tài sản mà Trương Thị Ngọc B trộm cắp là: 2.665.000 đồng.

Về vật chứng:

  • - 01 đĩa DVD có chứa đoạn video ghi hình hành vi trộm cắp tài sản của Trương Thị Ngọc B do TTTM giao nộp, chuyển theo hồ sơ vụ án.
  • - 02 khay nạm bò, 03 khay cá hồi, 03 khay chả mực Quảng Ninh, 03 khay dâu tây M, 01 khay hạt điều rang muối. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại số tài sản trên cho Công ty TNHH A.

Về dân sự: Người đại diện hợp pháp Công ty TNHH A, ông Nguyễn Bảo L1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Trương Thị Ngọc B.

Tại Bản Cáo trạng số 85/CT-VKSLC ngày 08/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trương Thị Ngọc B về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Trương Thị Ngọc B khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại Công ty TNHH A vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố các lời khai có trong hồ sơ thể hiện không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thị Ngọc B từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo do bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định. Về trách nhiệm dân sự: Bi hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với bản luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến gì tranh luận. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để tiếp tục được đi làm nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

[2] Lời khai của bị cáo Trương Thị Ngọc B tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, khẳng định: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 05/01/2025, tại Trung tâm thương mại A1, quận L, Hải Phòng, bị cáo Trương Thị Ngọc B đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản gồm 02 khay nạm bò, 03 khay cá hồi, 03 khay chả mực Quảng Ninh, 03 khay dâu tây M, 01 khay hạt điều rang muối của Công ty TNHH A; tổng giá trị tài sản là 2.665.000 đồng. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trương Thị Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :

[5] Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và quyết định hình phạt đối với bị cáo:

[6] Hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, xét nhân thân bị chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cho bị cáo sửa chữa sai lầm và trở thành người có ích cho xã hội.

[7] Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về việc khấu trừ thu nhập:

[8] Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trương Thị Ngọc B phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự; các điều 99, 100 của Luật Thi hành án Hình sự.

- Về biện pháp ngăn chặn:

[9] Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trương Thị Ngọc B.

- Về xử lý vật chứng:

[10] 01 đĩa DVD có chứa đoạn video ghi hình hành vi trộm cắp tài sản của Trương Thị Ngọc B do Công ty TNHH A giao nộp, là tài liệu chứng cứ được lưu hồ sơ vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự:

[11] Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[12] Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

[13] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
  • Tuyên bố bị cáo Trương Thị Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt bị cáo Trương Thị Ngọc B 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
  • Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được quyết định thi hành án.
  • Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát và giáo dục các bị cáo.
  • Trong trường hợp người được cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
  • - Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trương Thị Ngọc B.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; miễn khấu trừ một phần thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Bị cáo phải thực hiện lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự, các điều 99, 100 của Luật Thi hành án Hình sự.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hinh sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Thị Ngọc B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Trương Thị Ngọc B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại Công ty TNHH A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Phòng PV 06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - UBND phường Đằng Hải; quận Hải An;
  • - Công an phường Đằng Hải; quận Hải An;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hậu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 98/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Ngọc B - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger