Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 98/2025/DS-ST

Ngày: 28/5/2025

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Nguyên Lâm;

2. Bà Nguyễn Thị Xuân Hương;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Khánh Ly - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 và 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 118/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXX-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1); Địa chỉ: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng B, chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ; Người nhận ủy quyền lại: Ông Nguyễn Trung K, ông Nguyễn Thanh T, ông Bùi Xuân P – Chức vụ: Chuyên viên (Giấy uỷ quyền số 02/2025/UQ-KHCN ngày 28/02/2025). (Ông T có mặt, ông K, ông P vắng mặt)
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Duy X, sinh năm 1981; Có mặt.
  3. Bà Kiều Thị T1, sinh năm 1981; Xin vắng mặt.

    Cùng HKTT: thôn L, xã Đ, huyện H, Tp ..

  4. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • + Ông Nguyễn Trường L, sinh năm 1978;

    • + Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982;

    • + Chị Nguyễn Thị Diệu L1, sinh năm 2002;

    • + Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2004;

    • + Cháu Nguyễn Duy Việt A, ngày 23/6/2008), đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Trường L và bà Nguyễn Thị M.

    Cùng trú tại: Xóm D, thôn L, xã Đ, huyện H, Hà Nội.

    Bà M, chị L1, chị H uỷ quyền cho ông Nguyễn Trường L (Giấy uỷ quyền ngày 25/2/2025). (Ông L có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại Đơn khởi kiện ngày 25/8/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Theo Hợp đồng cho vay số LN2311251007678 ngày 04/12/2023 đã ký giữa V1 với ông Nguyễn Duy X và bà Kiều Thị T1, số tiền vay là 2.720.000.000 đồng, thời hạn cho vay: 300 tháng, tính từ ngày Ngân hàng giải ngân số tiền vay; mục đích vay hoàn vốn mua bất động sản tại thửa đất số 906, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: thôn L, xã Đ, huyện H, Hà Nội.

  • + Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 9,4%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày).

  • + Lãi suất cho vay trong hạn được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh tiếp theo là ngày đầu quý nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V1 thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 300 tháng được Bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 3,5%/năm.

  • - Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

  • - Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Số tiền ông X, bà T1 đã trả tính đến ngày 16/9/2024 theo hợp đồng này là: 126.115.919 đồng, trong đó nợ gốc là 0 đồng, nợ lãi là 126.115.919 đồng.

Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng điện tử ngày 23/11/2023;

Hạn mức đề nghị: 136.000.000 đồng; Loại thẻ: MC StepUp Credit; mục đích vay: Phục vụ tiêu dùng cá nhân; Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay áp dụng theo biểu mẫu lãi suất cho vay do V1 quy định qua từng thời kỳ; Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Tài sản đảm bảo cho các khoản vay nêu trên là: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản tại thửa đất số 906; tờ bản đồ số 07; tại địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội; theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CK 652336, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐU 10906 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 23/8/2017, được Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H- Chi nhánh huyện H chứng nhận sang tên cho ông Nguyễn Duy X ngày 15/11/2023, theo Hợp đồng thế chấp công chứng số 5416/2023, quyển số 04-2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2023 tại Văn phòng C Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/12/2023 tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H- Chi nhánh huyện H.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1, bà X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/7/2024 toàn bộ (các) khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 09/5/2025, ông T1, bà X còn nợ V1 tổng số tiền, cụ thể như sau:

Đối với Hợp đồng cho vay số LN2311251007678 ngày 04/12/2023:

Nợ gốc là 2.720.000.000 đồng, lãi trong hạn là 23.694.4825 đồng, lãi quá hạn là 23.086.181 đồng, lãi chậm trả là 259.254 đồng. Tổng cộng: 2.719.819.917 đồng.

Đối với Hợp đồng thẻ ngày 23/11/2023, đã tất toán xong, không còn dư nợ nên Ngân hàng không yêu cầu.

Tại phiên toà, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể: yêu cầu ông X trả số tiền nợ tại Hợp đồng cho vay số LN2410103988748 ngày 17/10/2024, số tiền vay là 460.000.000 đồng, thời hạn 120 tháng, kể từ ngày giải ngân đầu tiên, mục đích vay là mua sắm đồ dùng gia đình, khoản vay này vi phạm nghĩa vụ từ ngày 15/5/2025.

Đối với khoản Hợp đồng thẻ tín dụng ngày 23/11/2023, bị đơn đã tất toán nên không yêu cầu giải quyết.

3

Giữ nguyên yêu cầu đối với Hợp đồng tín dụng ngày 04/12/2023, cụ thể tạm tính đến ngày 27/5/2025, nợ gốc là 2.672.780.000 đồng, lãi trong hạn là 23.694.482 đồng, lãi quá hạn là 46.613.968 đồng, lãi chậm trả lãi là 663.995 đồng, tổng cộng là 2.743.752.445 đồng. Đề nghị ông T1, bà X tiếp tục phải trả lãi của số tiền nợ chưa thanh toán theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị giải ngân và văn bản tín dụng cho đến ngày ông T1, bà X thực tế thanh toán hết nợ cho V1.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông T1, bà X không trả nợ đầy đủ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên để thu hồi khoản nợ.

Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, thì ông X, bà T1 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho V1 cho đến khi các khoản nợ được tất toán.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn – ông Nguyễn Duy X trình bày:

Ông xác nhận ông và vợ là bà Kiều Thị T1 có tự nguyện ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp với Ngân hàng V1 để vay số tiền tín dụng như tại đơn khởi kiện của Ngân hàng trình bày là đúng. Ông xác nhận đến nay ông và vợ ông còn nợ Ngân hàng số tiền nợ như tại đơn khởi kiện. Nay do điều kiện khó khăn nên vợ chồng ông đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Đối với tài sản thế chấp, tài sản này ông nhận chuyển nhượng từ anh trai ông là ông Nguyễn Trường L. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông cho gia đình ông L ở nhờ trên đất, gồm có vợ ông L là bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1982 và 03 con là Nguyễn Thị Diệu L1 (sinh năm 2002), Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 2004), Nguyễn Duy Việt A (sinh ngày 23/6/2008).

Việc thế chấp của ông là hoàn toàn tự nguyện. Toàn bộ tài sản thế chấp là thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông, tài sản trên đất được xây dựng trước thời điểm thế chấp, sau thời điểm thế chấp tài sản vẫn giữ nguyên hiện trạng, không thay đổi gì. Nhà đất đã được gắn biển số nhà là số C, Ngõ B, đường C, thôn L, xã Đ, huyện H, Hà Nội.

Gia đình ông L sinh sống trên đất nhưng không có quyền lợi gì liên quan đến tài sản này, không xây dựng, sửa chữa thêm gì.

Ông nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vợ chồng ông hiện sinh sống tại thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội. Vợ ông đi làm từ sáng đến tối nên không lên Toà làm việc được. Vợ chồng ông không có tài liệu gì giao nộp cho Toà án.

4

Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – bà Kiều Thị T1 trình bày:

Việc ký kết các hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng V1 và vợ chồng bà như đơn khởi kiện của Ngân hàng V1 là đúng. Vợ chồng bà tự nguyện ký kết các hợp đồng tín dụng như trên. Việc ký kết hợp đồng với mục đích vay tiền là để giúp đỡ, hỗ trợ chồng và gia đình nhà chồng nên bà cũng không có ý kiến gì về khoản nợ này. Toàn bộ quá trình trả nợ, chồng bà là người đứng ra làm việc với Ngân hàng, bà không nắm được.

Đối với tài sản bảo đảm cho khoản nợ, ông X ký kết hợp đồng thế chấp với Ngân hàng T3 bà không rõ, tài sản thế chấp là của ông X, không phải của vợ chồng, bà không có bất cứ quyền lợi gì đối với tài sản đó nên bà không có ý kiến gì.

Nay Ngân hàng V1 khởi kiện để yêu cầu vợ chồng bà thanh toán số tiền nợ trên, bà không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà không có tài liệu gì liên quan đến vụ án để giao nộp cho Toà án. Do bận công việc nên bà xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Toà án giải quyết vụ án và tại các phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Trường L, bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Diệu L1, chị Nguyễn Thị Thu H do ông L là đại diện trình bày:

Ông là chủ sử dụng thửa đất số 427, tờ bản đồ số 4 (được gắn biển số nhà là số C Ngõ B, đường C, thôn L, xã Đ, huyện H, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 652336 cấp ngày 23/8/2017. Ngày 15/11/2023 ông làm thủ tục chuyển nhượng cho em trai là Nguyễn Duy X. Sau khi chuyển nhượng, ông, vợ và ba con vẫn ở nhờ trên đất. Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ông đã chuyển nhượng cho em trai là X, không còn quyền lợi gì. Quá trình sinh sống trên đất, gia đình ông không xây dựng, sửa chữa gì. Nay anh X thế chấp tài sản này, ông và gia đình không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến tại phiên toà:

+ Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng, thực hiện đúng quy định về thủ tục lấy lời khai, hòa giải, tiến hành công khai chứng cứ, đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng khác. Việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đầy đủ, đúng quy định. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, các đương sự chấp hành quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội

5

đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng. Việc Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS. Nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa, nội dung bổ sung yêu cầu khởi kiện là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên không có cơ sở chấp nhận.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân đã ký. Không chấp nhận yêu cầu lãi chậm trả lãi của nguyên đơn. Chấp nhận yêu cầu kê biên phát mại tài sản bảo đảm của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đủ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại nhà đất thế chấp để thu hồi nợ. Đối với hợp đồng thẻ tín dụng, nguyên đơn không yêu cầu nên không xét. Về án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Về quyền kháng cáo, các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[I]. Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Ngày 04/12/2023 Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Duy X, bà Kiều Thị T1 đã ký kết Hợp đồng cho vay với mục đích là vay hoàn vốn mua bất động sản tại thửa đất số 906, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thôn L, xã Đ, huyện H, Hà Nội nên xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt là BLTTDS) năm 2015.

Tại đơn khởi kiện thể hiện bị đơn cư trú tại thôn L, xã Đ, huyện H, Hà Nội. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.

1.2. Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:

Bị đơn - bà Kiều Thị T1 đề nghị được vắng mặt tại phiên toà nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T1 là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1.3. Về việc bổ sung yêu cầu khởi kiện tại phiên toà:

Tại phiên toà, nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể, bổ sung yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số LN2410103988748 ngày 17/10/2024 ký giữa V1 và ông Nguyễn Duy X.

6

Xét, tại đơn khởi kiện ngày 25/8/2024, nguyên đơn khởi kiện đối với Hợp đồng tín dụng số LN2311251007678 ngày 04/12/2023 và Hợp đồng thẻ ngày 23/11/2023. Hợp đồng tín dụng số LN2410103988748 ngày 17/10/2024 là hợp đồng độc lập, không liên quan gì đến hai hợp đồng trên. Việc nguyên đơn khởi kiện bổ sung tại phiên toà yêu cầu ông X trả số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng ngày 17/10/2024 là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và không phù hợp với Điều 244 BLTTDS năm 2015 nên không chấp nhận.

[II]. Về nội dung vụ án:

1. Về hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số LN2311251007678 ngày 04/12/2023:

Ngân hàng V1 - Chi nhánh K1 do bà Phan Thị Thu H1 – Giám đốc xác nhận giao dịch làm đại diện và ông Nguyễn Duy X, bà Kiều Thị T1 đã ký kết Hợp đồng cho vay số LN231125007678 ngày 04/12/2023, Giấy đề nghị giải ngân ngày 04/12/2023. Việc ký kết Hợp đồng cho vay nêu trên là tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

2. Về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc:

Sau khi ký kết Hợp đồng cho vay số LN231125007678 và V1 đã giải ngân cho ông X, bà T1 theo Giấy đề nghị giải ngân ngày 09/12/2023, số tiền vay là: 2.720.000.000 đồng; Thời hạn vay 300 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân vốn vay đầu tiên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông X, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tính từ ngày 15/7/2024 khoản nợ này đã chuyển sang nợ quá hạn. Hiện, ông X, bà T1 còn nợ V1 số tiền gốc là 2.672.780.000 đồng. Số nợ gốc này ông X, bà T1 xác nhận là đúng, đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Việc ông X, bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ là vi phạm thoả thuận của các bên tại Hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là có căn cứ nên chấp nhận.

3. Về yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả lãi:

V1 yêu cầu ông X, bà T1 trả số tiền nợ lãi của Hợp đồng cho vay và Giấy đề nghị giải ngân trên, tạm tính đến ngày 27/5/2025, cụ thể: Nợ lãi trong hạn là: 23.694.482 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 46.613.968 đồng, lãi chậm trả lãi là 663.995 đồng.

Ông X xác nhận số tiền nợ lãi trong hạn và quá hạn, lãi chậm trả lãi như V1 yêu cầu là đúng và nhất trí với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Xét, tại Điều 7, 8 Hợp đồng cho vay, hai bên đã thoả thuận về lãi suất tại thời điểm giải ngân, lãi suất ưu đãi, lãi suất điều chỉnh, lãi chậm trả lãi, thu hồi nợ trước

7

hạn. Ông X đã xác nhận số tiền nợ lãi trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả lãi như tại yêu cầu khởi kiện của đúng và xác định có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ lãi trên. Ngân hàng V1 đã xuất trình các tài liệu chứng minh về lãi suất điều chỉnh qua từng thời kỳ, phù hợp với thoả thuận của hai bên và phù hợp với khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao nên yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở nên chấp nhận.

Ngân hàng yêu cầu ông X, bà T1 tiếp tục phải thanh toán khoản lãi phát sinh của số tiền nợ gốc và lãi trên theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký giữa hai bên kể từ ngày 28/5/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.

4. Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ:

Ông Nguyễn Duy X và Ngân hàng V1 do bà Tạ Thị Hồng T2 – Phó Giám đốc xác nhận giao dịch là đại diện đã ký Hợp đồng thế chấp ngày 30/11/2023 được Văn phòng C1 công chứng, số công chứng: 5416/2023, quyển số: 04-2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2023 tại Văn phòng C1, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố H – Chi nhánh huyện H ngày 07/12/2023, để thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 906, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CK 652336, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐU10906 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 23/8/2017, được Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H – Chi nhánh huyện H chứng nhận sang tên ông Nguyễn Trọng X1 ngày 15/11/2023.

Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản của TAND huyện Hoài Đức thể hiện: trên đất có 01 nhà bê tông 03 tầng kiên cố, 01 nhà vệ sinh, 01 nhà ngói ba gian cấp 4, 01 lán tạm lợp tôn. Đại diện V1, ông X1, ông L xác nhận kể từ thời điểm thế chấp đến nay, hiện trạng nhà đất vẫn giữ nguyên. Hiện đang sinh sống tại tài sản thế chấp có ông Nguyễn Trường L, bà Nguyễn Thị M và ba con là Nguyễn Thị Diệu L1, Nguyễn Thị Thu H, cháu Nguyễn Duy Việt A. Sau khi ông L chuyển nhượng cho ông X1, ông X1 đã cho gia đình ông L ở nhờ. Gia đình ông L xác nhận gia đình ông sống nhờ trên đất, toàn bộ đất và tài sản trên đất là thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông X1, gia đình ông không có quyền lợi gì.

Xét, tài sản thế chấp trên thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của ông X1, các bên ký kết Hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp với các Điều 317, 318, 319 Bộ luật Dân sự năm 2015, điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về giao dịch

8

bảo đảm và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Do vậy, xác định Hợp đồng thế chấp trên là có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên, Ngân hàng V1 yêu cầu được quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm trong trường hợp ông X1, bà T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ là phù hợp nên chấp nhận.

Sau khi phát mại tài sản bảo đảm trên, nếu không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông X1, bà T1 tiếp tục phải có nghĩa vụ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

5. Đối với Hợp đồng thẻ ngày 23/11/2023, bị đơn đã tất toán xong, không còn dư nợ, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[III]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Ông X1, bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngân hàng V1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 463, 317, 318, 319, 322, 299 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo;

- Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với ông Nguyễn Duy X, bà Kiều Thị T1.
  2. Buộc ông Nguyễn Duy X, bà Kiều Thị T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ tạm tính đến ngày 27/5/2025 theo Hợp đồng cho vay số LN231125007678 ngày 04/12/2023 đã ký giữa hai bên, cụ thể:
    • - Nợ gốc là: 2.672.780.000 đồng;

    • - Nợ lãi trong hạn là: 23.694.482 đồng;

    • - Nợ lãi quá hạn là: 46.613.968 đồng;

    • - Nợ lãi chậm trả lãi là 663.995 đồng;

    • - Tổng cộng là: 2.743.752.445 đồng.

    Kể từ ngày 28/5/2025, ông Nguyễn Duy X, bà Kiều Thị T1 còn phải tiếp tục phải trả khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc và lãi chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay, Giấy đề nghị giải ngân đã ký kết giữa hai bên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng V1.

  3. Về xử lý tài sản bảo đảm: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng V1 về việc đề nghị cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm khi ông Nguyễn Duy X, bà Kiều Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, tài sản bảo đảm là:
  4. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 906, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CK 652336, số vào sổ cấp GCN: CS-HĐU10906 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 23/8/2017, được Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H – Chi nhánh huyện H chứng nhận sang tên ông Nguyễn Trọng X1 ngày 15/11/2023, theo Hợp đồng thế chấp được Văn phòng C1 công chứng, số công chứng: 5416/2023, quyển số: 04-2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 30/11/2023, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện H ngày 07/12/2023.

    Sau khi phát mại tài sản bảo đảm trên, nếu không đủ để thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Duy X, bà Kiều Thị T1 tiếp tục phải có nghĩa vụ thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng V1 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Đối với Hợp đồng thẻ ngày 23/11/2023, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xét.
  6. Về án phí và quyền kháng cáo:
  7. Ông Nguyễn Duy X, bà Kiều Thị T1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 86.875.000 đồng.

Ngân hàng TMCP V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 45.075.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0038504 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt đại diện Ngân hàng TMCP V, ông Nguyễn Duy X, ông Nguyễn Trường L, bà Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Thị Diệu L1, chị Nguyễn Thị Thu H (bà M, chị L1, chị H do ông L là đại diện), cháu Nguyễn Duy Việt A do ông L, bà M là đại diện, vắng mặt bà Kiều Thị T1.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND h.Hoài Đức;
  • - TAND TP.Hà Nội;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - Chi cục THADS h.Hoài Đức;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Lan Anh

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/DS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 98/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger