TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 98/2025/HSST Ngày 20/3/2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Kim Uyên
Bà Vương Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST-HS ngày 06/3/2025 đối với bị cáo:
Lê Thành K, sinh năm 1981 tại tỉnh Thanh Hoá; thường trú: 2 Đội C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Đặng N (đã chết) và bà Vũ Thị Q, sinh năm 1938; bị cáo có vợ tên Trịnh Thị H, sinh năm 1982 và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/8/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trịnh Duy Q1, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: thôn L, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; trú tại: Tổ A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1982; trú tại: 2 Đội C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
- + Chị Bùi Thị T; vắng mặt tại phiên tòa.
- + Anh Lê Ngọc Đ; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 15/7/2018, anh Trịnh Duy Q1, anh Lê Quang Đ1, Lê Thành K và một người tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch bạn của anh Đ1) ăn uống tại phòng trọ của anh Đ1, địa chỉ: tổ A, khu phố T, phường T, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương. Sau khi ăn uống xong, anh T1 đi về, anh Q1 và Lê Thành K ở lại chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền, mỗi ván từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng. Quá trình chơi đánh bạc, anh Q1 và K xảy ra mâu thuẫn trong việc tính tiền thắng, thua. K liền lấy 01 (một) cái điếu cày bằng tre có sẵn trong phòng trọ của anh Đ1 đánh vào đầu anh Q1 một cái. Thấy vậy, anh Đ1 can ngăn không cho hai bên đánh nhau. Tuy nhiên, do bực tức vì bị K đánh, anh Q1 đi về phòng trọ của mình ở cuối dãy trọ lấy 01 (một) cây tuýp sắt dài khoảng 01 mét; đường kính 2,7cm quay lại để đánh K. Thấy anh Q1 quay lại tay có cầm cây tuýp sắt nên K chạy vào bếp anh Đ1 lấy 01 (một) con dao, cán gỗ, lưỡi dao bằng inox, dài khoảng 30cm đi ra cửa phòng trọ. Khi K bước ra cửa phòng trọ, anh Q1 dùng cây tuýp sắt đánh một cái trúng vào đầu bên trái của Lê Thành K chảy máu và tiếp tục đánh cái thứ hai thì K dùng tay trái đỡ nên trúng vào cổ tay trái. Do bị đánh vào đầu chảy máu nên Lê Thành K vừa ôm mặt vừa dùng dao chém về phía anh Q1, nhát thứ nhất trúng vào bàn tay phải, nhát thứ hai trúng vào trán và nhát thứ ba trúng vào bả vai bên trái gây thương tích. Anh Q1 bỏ chạy vào trong tiệm tạp hoá của chị Bùi Thị T gần đó, K đuổi theo nhưng được chị T và mọi người can ngăn nên K cầm dao bỏ đi. Sau đó chị T đưa anh Q1 đi Bệnh viện Q2 cấp cứu và được chuyển đến Bệnh viện A để tiếp tục điều trị đến ngày 18/7/2018 thì xuất viện.
Ngày 07/8/2018, anh Trịnh Duy Q1 đến Cơ quan Công an phường T, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương tố cáo hành vi của Lê Thành K và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và giám định thương tích.
Vật chứng vụ án: 01 ống tuýp sắt dài khoảng 01m.
Đối với con dao và 01 điếu cày bằng tre cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Ngày 14/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D (nay là thành phố D) ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích" quy định tại Khoản 2 Điều 134 Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 1017).
Ngày 14/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D (nay là thành phố D) ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án với lý do chưa xác định được lai lịch của Lê Thành K.
Ngày 04/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án. Ngày 04/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án do chưa xác định được bị can.
Ngày 04/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án và ra quyết định khởi tố bị can.
Ngày 05/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, điều tra bị can và Quyết định truy nã đối với Lê Thành K.
Ngày 19/8/2024, Lê Thành K đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đầu thú và bị tạm giam để điều tra cho đến nay.
*) Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0813/TgT/2018 ngày 30/10/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y, thương tích của anh Trịnh Duy Q1 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích đầu, vai trái và bàn tay phải.
- Sẹo trán trái nằm ngoài chân tóc kích thước 06 x 0,4cm, xơ dính, đổi màu, xấu về thẩm mỹ, trong đó 1,5 x 0,4cm nằm trong chân tóc. Tỷ lệ 07%.
- Sẹo mặt trước vai trái (mặt trước 1/3 trên cánh tay trái) kích thước 05 x 0,4cm. Tỷ lệ 03%.
- Sẹo mu bàn tay phải hình vòng cung kích thước 08 x 0,2cm. Kết luận: Tổn thương gãy xương bàn I tay phải đã phẫu thuật kết hợp xương, hiện hạn chế vận động ngón I tay phải mức độ nặng. Tỷ lệ 10%.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể áp dụng theo phương pháp cộng lùi do thương tích gây nên của anh Trịnh Duy Q1 tại thời điểm giám định là 19%.
- Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc.
*) Theo Kết luận giám định thương tích số 635/2024/KLGĐ-TTPY ngày 21/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Thành K như sau:
- Các kết quả chính:
- Vết thương đầu vùng đỉnh – thái dương trái 3,2 x 0,1cm, sẹo lành, tỷ lệ 01%.
- Vết thương cổ tay trái 1,2 x 0,2, sẹo lành, tỷ lệ 01%.
- Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể Lê Thành K là 02%.
- Kết luận khác:
Cơ chế hình thành vết thương: vết thương đầu vùng đỉnh – thái dương trái, vết thương cổ tay trái: các vết thương sẹo, có bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày gây ra.
Đối với thương tích của Lê Thành K do bị hại Q1 gây ra có dấu hiệu của tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Lê Thành K yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật, tuy nhiên tại thời điểm Lê Thành K yêu cầu đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không có căn cứ xử lý. Đồng thời, thời hiệu xử lý vi phạm hành chính đối với anh Trịnh Duy Q1 đã hết nên cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền giữa Lê Thành K và Trịnh Duy Q1 không xác định được số tiền cụ thể sử dụng đánh bạc, đồng thời đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không xử lý.
Theo bản Cáo trạng số 53/CT- VKS- DA ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố bị cáo Lê Thành K về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Thành K mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo K phải bồi thường cho bị hại theo quy định; Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 ống tuýp sắt dài 01m, đường kính rộng 2,7cm.
Tại phiên tòa bị hại Trịnh Duy Q1 yêu cầu bị cáo Lê Thành K bồi thường tiền khám chữa bệnh, tiền công 01 tháng bị thương tích không đi làm được, tiền tổn thất tinh thần, tổng cộng là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố D, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo Lê Thành K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 15/7/2018, tại địa chỉ: tổ A, khu phố T, phường T, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, giữa Lê Thành K và Trịnh Duy Q1 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, K lấy cái điếu cày bằng tre đập vào đầu anh Q1 một cái. Bực tức anh Q1 về phòng mình lấy một cây tuýp sắt sang phòng K đánh trúng vào đầu bên trái K chảy máu, cái thứ hai K giơ tay đỡ được. Do bị đánh chảy máu nên K lấy con dao cán gỗ, lưỡi dao bằng inox, dài khoảng 30cm trong phòng trọ chém về phía anh Q1, nhát thứ nhất trúng vào bàn tay phải, nhát thứ hai trúng vào trán và nhát thứ ba trúng vào bả vai bên trái gây thương tích. Theo kết luận giám định thương tích của anh Trịnh Duy Q1 tại thời điểm giám định là 19%.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi:
Hành vi dùng dao chém bị hại của bị cáo là nguy hiểm. Tuy nhiên, cũng thấy một phần lỗi do bị hại đã dùng cây sắt đánh vào đầu bị cáo chảy máu và trong lúc bị thương bị cáo đã dùng dao chém lại bị hại. Căn cứ vào kết luận giám định vết thương của bị hại tại vai, tay, trán, không sâu rộng, không phải là vùng trọng yếu của cơ thể. Do đó hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Mặt dù bị cáo gây thương tích cho bị hại nhưng bị hại cũng có phần lỗi đã dùng cây sắt đánh vào đầu bị cáo tạo nên sự bực xúc để bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích lại cho bị hại. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ về quê gây khó khăn cho công tác điều tra. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả, cha bị cáo có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương bảo vệ Tổ quốc, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[4] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần và thu nhập bị mất trong thời gian không làm việc được là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Ngày 19/3/2025 vợ bị cáo K đã đóng số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) bồi thường cho bị hại theo biên lai số 0000346 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 ống tuýp sắt dài 01m, đường kính rộng 2,7cm là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy;
Đối với con dao cán gỗ, lưỡi dao bằng Inox dài khoảng 30cm và chiếc điếu cày bằng gỗ tre cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được, nên không có cơ sở xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự;
- - Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Thành K phạm tội “Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo Lê Thành K 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Lê Thành K phải bồi thường cho bị hại Trịnh Duy Q1 số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), khấu trừ vào số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đã nộp theo biên lai số 0000346 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại Q1 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 ống tuýp sắt dài 01m, đường kính rộng 2,7cm;
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025).
- Về án phí:
Bị cáo Lê Thành K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Anh Thư |
Bản án số 98/2025/HSST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 98/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đã bồi thường 1/2
