Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/HS-ST

Ngày 17 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cáp Văn Dũng; Ông Đặng Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 17/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2025/TLST-HS ngày 21/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025 đối với bị cáo: Nông Đức K, sinh năm 2000 tại tỉnh Cao Bằng.

HKTT: Xóm Tục Ngã, xã Đức Xuân, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng;

Nơi ở trước khi phạm tội: Khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn L, sinh năm 1973 và con bà Đinh Thị H, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh)

Địa chỉ: Số H đường P, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh

Người tham gia tố tụng khác

  1. Bà Nguyễn Thị L1 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh).
  2. Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại điểm cầu trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh B).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, tại phòng trọ số C ở tầng C, khu A, phường Đ, thành phố B của chị Hoàng Thị T, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an phường Đ bắt quả tang Nông Đức K có hành vi cất giấu tại đầu giường ngủ của K 01 gói bọc ngoài bằng khẩu trang màu xanh, bên trong có chứa 02 túi nilon màu trắng (trong mỗi túi đều có chứa chất tinh thể màu trắng) và 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa 01 mảnh viên nén màu xanh. Lực lượng Công an đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng trên theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 110/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 1,9218 gam; là ma túy; loại ma túy: Ketamine.

- 01 mảnh viên nén màu xanh bên trong phong bì thư gửi giám định có khối lượng là 0,3536 gam; là ma túy; loại ma túy: MDMA.

Ketamine và MDMA là các chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất

Nông Đức K khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân và nguồn gốc số ma túy như sau: Tối ngày 19/12/2024 K đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ khu trọ đến khu vực thị xã Q tìm mua ma túy tổng hợp dạng “kẹo, ke” để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực thị xã Q, K mua của một người đàn ông không quen biết 700.000 đồng được 01 gói bọc ngoài bằng khẩu trang màu xanh, bên trong có chứa 02 túi nilon màu trắng (trong mỗi túi đều chứa chất tinh thể màu trắng) và 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa 01 mảnh viên nén màu xanh. Sau khi mua được ma túy K mang về phòng trọ cất giấu ở đầu giường ngủ trong phòng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, khi K đang ở phòng trọ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS-TPBN ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nông Đức K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Nông Đức K khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo có thực hiện những hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Toàn bộ số ma túy bị cáo bị thu giữ mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định số ma túy đã thu giữ, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nông Đức K từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Tòa án xét xử bị cáo về tội danh, hình phạt theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên hạn chế về nhận thức; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên ngoài áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhất trí với đề nghị của người bào chữa về áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo nhận tội, không bổ sung bào chữa, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện rõ: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, tại phòng trọ số C ở tầng C, khu A, phường Đ, thành phố B, Nông Đức K có hành vi tàng trữ 1,9218 gam ma túy Ketamine và 0,3536 gam ma túy MDMA để sử dụng cho bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo Nông Đức K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạm vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân; nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố B. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án tiền sự nhưng là đối tượng nghiện sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng phạm vào tội nghiêm trọng quy định trong Bộ luật hình sự. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo. Nhưng khi lượng hình cần xem xét sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung vào ngân sách nhà nước, nhưng xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và phạm tội không với mục đích thu lời bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Số vật chứng của vụ án chưa xử lý, nay xử lý như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[6] Liên quan trong vụ án này có người đàn ông bán ma túy cho K tại thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, K không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với chị Hoàng Thị T là chủ phòng trọ cho K thuê, chị T không biết K tàng trữ trái phép ma túy trong phòng trọ của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý đối với chị T là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nông Đức K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nông Đức K 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án, theo Quyết định tạm giam số 93/2025/HSST-QĐTG ngày 17/3/2025 của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư được niêm phong theo quy định, bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 110/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Đức K.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND/VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo;
  • - Chi cục THA thành phố Bắc Ninh (HLPL);
  • - Người TGTT;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 98/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger