|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13/3/2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, con chung |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Yêm và ông Nguyễn Hữu Đệ
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Xuân Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 547/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXX-ST ngày 10/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N – Sinh năm 1982
Đăng ký thường trú và hiện ở: Xóm C, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội (Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Chu Văn T – Sinh năm 1979
Đăng ký thường trú và hiện ở: Xóm C, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2024 và những lời khai tại Tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày:
Chị Hoàng Thị N và anh Chu Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 25/12/2004 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận đến giữa năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm, lối sống không phù hợp nhau, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề, từ cuộc sống chung đến kinh tế gia đình. Anh T1 thường xuyên rượu chè, không đóng góp về kinh tế để nuôi con và chăm sóc gia đình, nhiều lần vợ chồng đánh cãi chửi nhau, có lần anh T1 đánh chị, chị phải báo trưởng thôn can thiệp, gia đình cũng có hòa giải hai bên nhưng không tháo gỡ được mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, không tìm được tiếng nói chung, không quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Đến tháng 9/2024 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chị N thuê nhà ở riêng, vợ chồng sống ly thân, chấm dứt hoàn toàn quan hệ tình cảm. Nay, chị N xác định tình cảm vợ chồng đã hết, yêu cầu được ly hôn với anh Chu Văn T.
- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Chu Văn T2, sinh ngày 03/9/2005 (đã trưởng thành) và cháu Chu Thùy L, sinh ngày 24/10/2008. Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, không yêu cầu anh T đóng góp nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Chu Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không có lời khai.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu.
Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thẩm quyền: Toà án nhân dân huyện Đông Anh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Thẩm phán lập hồ sơ, xác minh, thu thập chứng cứ, tiến hành giao các văn bản tố tụng và tiến hành trình tự, thủ tục tại phiên toà đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng tại phiên toà đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không đến Tòa án để làm việc mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy chị N và anh T mâu thuẫn từ năm 2016, anh chị đã sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai, xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Nay, chị N xin ly hôn, anh T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến, không thực hiện quyền của đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự và ý thức chấp hành pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 19, 51, khoản 2 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.
+ Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Chu Văn T2, sinh ngày 03/9/2005 (đã trưởng thành) và cháu Chu Thùy L, sinh ngày 24/10/2008. Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, không yêu cầu anh T đóng góp nuôi con, cháu L cũng có nguyện vọng xin ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.
+ Về án phí: Chị N phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
Chị Hoàng Thị N có đơn xin ly hôn với anh Chu Văn T có đăng ký thường trú và hiện ở tại: Xóm C, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Do vậy, việc chị N khởi kiện là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Anh – thành phố Hà Nội.
Nguyên đơn là chị Hoàng Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là Chu Văn T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng anh T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết tiến hành xét xử vắng mặt anh là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ vào lời khai của đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị Hoàng Thị N và anh Chu Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 25/12/2004 tại UBND xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sinh sống tại thôn C, xã C, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Vợ chồng sống hạnh phúc đến giữa năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã, thậm trí dẫn đến xô xát. Tháng 9/2024, chị N thuê nhà ở riêng. Anh chị sống ly thân và chấm dứt hoàn toàn quan hệ tình cảm từ đó đến nay, không liên lạc, không nói chuyện với nhau. Gia đình hai bên có nói chuyện với anh chị để hoà giải nhưng không thành. Quá trình giải quyết ly hôn, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, thể hiện sự bất cần hàn gắn gia đình cũng như thiếu ý thức, trách nhiệm của một đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều này càng khẳng định hôn nhân của anh chị đã không thể tiếp tục, cuộc sống chung không tồn tại hơn nửa năm nay như chị N trình bày và phía chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú xác nhận. Việc chị N xác định vợ chồng không còn tình cảm, kiên quyết xin ly hôn là có căn cứ nên Hôi đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
2.2. Về con chung:
Chị N và anh T có 02 con chung là cháu Chu Văn T2, sinh ngày 03/9/2005 (đã trưởng thành) và Chu Thùy L, sinh ngày24/10/2008. Khi ly hôn chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Cháu T2 đã trưởng thành, ở với ai tùy cháu quyết định. Xét nguyện vọng nuôi con của chị N thấy: Chị N hiện đang làm thợ may, thu nhập khoảng 17.000.000 đồng/tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện chăm sóc con chung, cháu Chu Thùy L cũng có nguyện vọng được sống với chị N nên việc giao cháu L cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo phát triển tâm sinh lý cho trử, cũng như thỏa mãn nguyện vọng của chính cháu L đã gửi cho Tòa án.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao con chung là cháu Chu Thùy L cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
2.3. Về tài sản chung:
Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này nếu có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
2.4. Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng, án phí lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận
yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị N đối với anh Chu Văn T. Chị Hoàng Thị N được ly hôn với anh Chu Văn T.
2. Về con chung:
Anh chị có 02 con chung là cháu Chu Văn T2, sinh ngày 03/9/2005 (Đã trưởng thành) và cháu Chu Thùy L, sinh ngày 24/10/2008. Sau ly hôn, giao chị N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu L. Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Cháu T2 đã trưởng thành nên ở với ai tùy cháu quyết định.
Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung:
Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp phát sinh tranh chấp về tài sản chung các bên có quyền khởi kiện vụ án khác theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí:
Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị N đã nộp tạm ứng 300.000 đồng tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo biên lai số 0071366 nay chuyển thành án phí.
Án xử công khai sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Lan |
Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 98/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
