Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 98/2025/HSST

Ngày 05/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh;
  • Bà Vương Thị Khánh Loan;
  • Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lâm Thị Thảo;
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, vụ án hình sự thụ lý số 76/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Phan Xuân T (Tên gọi khác: không), sinh năm 1978, tại Hà Tĩnh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: tổ A, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: phụ hồ; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Xuân L, đã mất và bà Bùi Thị N, sinh năm 1957; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất; Có vợ tên: Nguyễn Thị Ngô T1, sinh năm 1983 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/11/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực B - Có mặt.

◆ Bị hại: Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1986 - vắng mặt;

Địa chỉ: khu A, xã L, huyện L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Xuân T có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1986, ngụ tại khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) sau đó hai bên chung sống với nhau từ tháng 12/2022, tại Phòng trọ số 02 nhà trọ không số thuộc tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Anh Nguyễn Đức P - sinh năm 2006 (con trai chị T2) ở tại Phòng trọ số 03 (sát bên phòng trọ của chị T2). Quá trình sống chung, T với chị T2 thường nảy sinh xích mích dẫn đến phát sinh mâu thuẫn nên T và chị T2 chia tay nhau. Từ tháng 3/2023, T dọn đồ đi ở nơi khác.

Sau đó, T níu kéo muốn quay lại sống chung với chị T2, nhưng chị T2 không đồng ý nên T đã 04 (bốn) lần thực hiện hành vi đe dọa giết chị T2. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày (không rõ) khoảng giữa tháng 7/2023, T điện thoại cho chị T2 đe doạ giết chị T2. Sau đó, trong lúc chị T2 đang ngủ trong phòng trọ của chị T2 (địa chỉ nêu trên), T đem 01 (một) chai xăng (loại chai nước giải khát hiệu C2, dung tích 500ml) đến đổ trước cửa phòng trọ của chị T2 làm chị T2 hoảng loạn, hoang mang lo sợ T châm lửa đốt chết, rồi T bỏ đi.

Lần thứ hai: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày (không rõ) khoảng giữa tháng 7/2023 (cách lần thứ nhất 01 ngày), T diện thoại cho chị T2 đe doạ giết chị T2. Sau đó, trong lúc chị T2 đang ngủ trong phòng trọ của chị T2 (địa chỉ nêu trên), T đem 01 (một) chai xăng (loại chai nước giải khát hiệu C2, dung tích 500ml) đến đổ vào phòng trọ của chị T2 qua ô thông gió phía trên cửa ra vào phòng trọ làm chị T2 hoảng loạn, hoang mang lo sợ T châm lửa đốt chết, rồi T bỏ đi.

Lần thứ ba: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày (không rõ) khoảng giữa tháng 9/2023, T điện thoại cho chị T2 đe doạ giết chị T2. Sau đó, trong lúc chị T2 đang ngủ trong phòng trọ của chị T2 (địa chỉ nêu trên), T đem 01 (một) chai xăng (loại chai nước giải khát hiệu C2, dung tích 500ml) đến đổ vào phòng trọ của chị T2 qua ô thông gió phía trên cửa ra vào phòng trọ làm chị T2 hoảng loạn, hoang mang lo sợ T châm lửa đốt chết, rồi T bỏ đi.

Lần thứ tư: Vào khoảng 00 giờ 54 phút ngày 26/12/2023, chị T2 đang ngủ trong phòng trọ của chị T2 (địa chỉ nêu trên), T đem 02 (hai) chai xăng (loại chai nhựa nước giải khát hiệu C2, dung tích 500ml và loại chai nhựa nước suối hiệu Number One, dung tích 500ml) đến lấy ổ khóa hiệu Việt Tiệp (có sẵn ở cửa) khóa bên ngoài cửa phòng trọ của chị T2 lại rồi T lấy đoạn dây kẽm gấp xoắn mang theo buộc (cột) bên ngoài cửa Phòng trọ số 3 (Phòng trọ của anh P). Sau đó, T lấy 02 (hai) chai xăng mang theo lần lượt đổ vào bên trong phòng trọ của chị T2 qua ô thông gió phía trên mí cửa sổ phòng trọ chảy vào chăn (mền) nơi chị T2 đang nằm ngủ (đổ hết chai thứ nhất và gần hết chai thứ hai). Lúc này, chị T2 ở bên trong phòng trọ thức giấc phát hiện mùi xăng liền vùng dậy chạy ra mở cửa để thoát ra ngoài nhưng không mở được (vì đã bị T khoá bên ngoài). Chị T2 hoảng sợ, nghĩ T sẽ châm lửa đốt chết nên kêu la và đập vào tường ngăn cách với P1 số 3 gọi anh P dậy cứu. Lúc này, T đứng bên ngoài hành lang khu nhà trọ (Cách phòng trọ của chị T2 khoảng 02m) xẹt bật lửa dọa châm lửa đốt phòng trọ nhưng không thực hiện, rồi T bỏ đi. Anh P tỉnh dậy chạy ra mở cửa phòng nhưng không mở được (vì đã bị T buộc bên ngoài), nên gọi điện thoại nói chị T2 gọi điện thoại nhờ anh Nguyễn Văn T3 trọ tại phòng số 6 (Cùng dãy trọ). Chị T2 gọi điện thoại cho anh T3 và được anh T3 dậy mở cửa cho anh P. Sau đó, anh P mở cửa cho chị T2 thoát ra ngoài.

Khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, chị T2 đến Công an phường T trình báo và tố giác hành vi phạm tội của T. Sau đó, Công an phường T lập hồ sơ ban đầu rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thụ lý giải quyết.

Sau khi gây án, T bỏ trốn. Đến ngày 18/11/2024, T bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, về tội: “Đe dọa giết người”. Tại Cơ quan điều tra, Phan Xuân T khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

◆ Vật chứng vụ án:

  • 02 (hai) vỏ chai nhựa, gồm: 01 (một) chai nhãn hiệu Number One, loại 500ml; 01 (một) chai không có nhãn hiệu kích thước cao 20cm, đường kính 06cm bên trong còn ít chất lỏng nghi là xăng cùng 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh đường kính khoảng 02cm, là vật dụng T đựng xăng đem đến gây án (Đã niêm phong gửi giám định).
  • 01 (một) đoạn dây kẽm màu trắng dài 145cm (đã bị gấp xoắn thành đoạn dài khoảng 20cm), T sử dụng buộc cửa phòng trọ của anh P khi gây án,
  • 01 (một) ổ khoá hiệu Việt Tiệp màu vàng, kích thước 4,3cm x 5,8cm Thuận lấy của chị T2 dùng khoá cửa phòng trọ của chị T2 khi gây án và 01 (một) tấm chăn (mền) hình chữ nhật, kích thước 01m6 x 02m có chữ CHANEL màu trắng xanh của chị T2 bị T đổ xăng chảy vào chăn. Cơ quan điều tra đã trả lại ổ khoá và chăn cho chị T2.
  • Đối với điện thoại di động T sử dụng gọi điện thoại cho chị T2 đe doạ giết chị T2, T khai đã bị rơi mất; Xe mô tô (không rõ biển số) T sử dụng đi gây án do T mượn của ông S (Không rõ lai lịch, địa chỉ), nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

◆ Tại Bản Kết luận giám định số 2937/KL-KTHS ngày 09/01/2024, của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ, đã kết luận:

  • Mẫu chai nhựa có nhãn hiệu Number One (mẫu M1) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.
  • Mẫu chất lỏng trong chai nhựa (mẫu M2) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.
  • Mẫu chăn (mẫu M3) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy thành phần xăng.

◆ Về trách nhiệm dân sự: Chị T2 không yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại

◆ Tại Bản Cáo trạng số 118/CT-VKSBH ngày 22 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Phan Xuân T về tội “Đe dọa giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:

◆ Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

◆ Tình tiết tăng nặng: Phạm tội có tính chất côn đồ; Phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm d, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Phan Xuân T mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù giam.

◆ Bị cáo Phan Xuân T không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.

◆ Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi và quyết định tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố là thống nhất, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Từ khoảng giữa tháng 7/2023 (không rõ ngày) đến ngày 26/12/2023, tại nhà trọ không số thuộc tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Phan Xuân T sau thời gian sống chung như vợ chồng và đã chia tay chị Nguyễn Thị T2 nhưng vì muốn quay lại sống chung với chị T2 nhưng chị T2 không đồng ý. T đã gọi điện thoại hăm doạ sẽ giết chị T2 và đã 04 (bốn) lần thực hiện việc đem xăng đến đổ vào phòng trọ của chị T2 lúc đêm khuya (từ 21 giờ đến khoảng 00 giờ 54 phút), làm cho chị T2 hoang mang lo sợ việc T sẽ châm lửa đốt chết chị T2.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đe dọa giết người”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Phan Xuân T về tội “Đe dọa giết người”, theo quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ; Phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm d, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần xử phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với các tài sản Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho chủ sở hữu là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) vỏ chai nhựa, gồm: 01 (một) chai nhãn hiệu Number One, loại 500ml; 01 (một) chai không có nhãn hiệu kích thước cao 20cm, đường kính 06cm cùng 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh đường kính khoảng 02cm và 01 (một) đoạn dây kẽm màu trắng dài 145cm (đã bị gấp xoắn thành đoạn dài khoảng 20cm), là vật dụng T sử dụng khi gây án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 133; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm d, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Xuân T phạm tội “Đe dọa giết người”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Xuân T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Đối với các tài sản Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho chủ sở hữu là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) vỏ chai nhựa, gồm: 01 (một) chai nhãn hiệu Number One, loại 500ml; 01 (một) chai không có nhãn hiệu kích thước cao 20cm, đường kính 06cm cùng 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh đường kính khoảng 02cm và 01 (một) đoạn dây kẽm màu trắng dài 145cm (đã bị gấp xoắn thành đoạn dài khoảng 20cm), là vật dụng T sử dụng khi gây án.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS - Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai - Phân trại tạm giam Khu vực Biên Hòa;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (về tội đe dọa giết người)

  • Số bản án: 98/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Đe dọa giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đe dọa giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger