|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HS-ST
Ngày 10 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thành Công
Các hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Tất Hưng, bà Vũ Thị Thu Liễu
Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
tham gia phiên toà: Ông Tạ Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2024/TLST - HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 18 tháng 11 năm 1992
Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn N và bà: Nguyễn Thị B; có chồng là Nguyễn Xuân T; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Đại diện hợp pháp của bị hại:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1962, vắng mặt
Nơi cư trú: thôn P, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phan Thị T2, sinh năm 1959, vắng mặt
Nơi cư trú: TDP N, thị trấn V, huyện V, Vĩnh Phúc
+ Cháu Nguyễn Xuân H, sinh ngày 05/6/2017, vắng mặt
+ Cháu Nguyễn Xuân D, sinh ngày 12/01/2015, vắng mặt
Người đại diện: ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1988, có mặt
Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 27/4/2024, Bị cáo Nguyễn Thị Hải Y (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 19/4/2016, có giá trị không thời hạn, không sử dụng rượu, bia, chất kích thích), điều khiển xe mô tô BKS 29S7-019.99 chở theo phía sau là hai con trai (cháu Nguyễn Xuân D, sinh năm 2015 và cháu Nguyễn Xuân H, sinh năm 2017) di chuyển từ khu công nghiệp Q thuộc thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội về nhà mẹ đẻ của Y ở xã T, huyện B, thành phố Hà Nội chơi. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày, Y điều khiển xe mô tô di chuyển đến Km số 4 + 200 đường quốc lộ 2C (thuộc lòng đường cầu V) thuộc địa phận thôn H, xã V, huyện V, Y điều khiển xe mô tô di chuyển ở chiều đường bên phải theo hướng từ huyện V đi thị xã S, thành phố Hà Nội với tốc độ khoảng 60km/h, Y không chú ý quan sát phần đường phía trước cùng chiều. Khi phát hiện phía trước cách khoảng 2m đến 3m thấy xe mô tô BKS: 29L7- 5608 do bà Phan Thị T2, sinh năm 1959 ở trấn V, huyện V điều khiển chở theo phía sau là anh Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1990 ở tại xã M, huyện B đang đi phía trước cùng chiều. Do không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước cùng chiều nên Y không kịp xử lý dẫn đến phần đầu xe mô tô do Y1 điều khiển đâm vào phía sau xe mô tô do bà T2 điều khiển làm hai xe mô tô bị đổ, trượt ngã ra đường. Hậu quả: Y, cháu D, cháu H, anh T3 bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Q nhưng do bị thương nặng nên anh T3 đã tử vong, còn cháu D, cháu H được sơ cứu rồi cho về nhà điều trị, Y được điều trị đến ngày 16/5/2024 thì ra viện; bà T2 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện V, sau sơ cứu đã về nhà tự điều trị; hai phương tiện bị hư hỏng.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ, Công an huyện V cùng các cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và điều tra theo quy định của pháp luật.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Đoạn đường xảy ra tai nạn thuộc km 4+200 quốc lộ B (cầu V) thuộc địa phận thôn H - xã V - huyện V. Đoạn đường này thẳng, không bị che khuất tầm nhìn, mặt đường được trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng rộng 15,5m, ở giữa tim đường có vạch sơn kép nét liền màu vàng chia đường thành hai chiều xe chạy, một hướng đi thị xã S- thành phố Hà Nội, một hướng đi xã T- huyện V. Cách tâm đường sang hai bên 3,3m có hệ thống vạch sơn nét đứt màu trắng chạy dọc theo tuyến đường. Hai bên mép đường là hệ thống lan can cầu cao (1,1 x 0,8)m. Tại khu vực hiện trường không phát hiện có hệ thống biển báo, đèn báo hiệu đường bộ. Chọn chiều khám nghiệm theo chiều đi từ hướng xã T- huyện V đi theo cầu V sang thị xã S. Chọn mép đường bên phải theo chiều khám nghiệm làm mép đường chuẩn. Chọn điểm mốc là cột mốc H2/4 nằm tại lan can bên phải cầu theo chiều khám nghiệm.
- Đám vết cày kích thước (0,3x9,3)m nằm tại mặt đường ký hiệu là (1). Đo đầu (1) đến mép đường chuẩn là 2,05m. Đo cuối (1) (nằm tại bàn để chân người lái bên trái xe mô tô biển kiểm soát 29L7- 5608) đến mép đường chuẩn là 1,65m. Đo đầu (1) đến điểm mốc là 6,2m.
- Xe mô tô biển kiểm soát 29L7- 5608 nằm đổ nghiêm bên trái tại mặt đường, phần đầu xe hướng đi thị xã S, phần đuôi xe hướng đi xã T- huyện V được ký hiệu là (2). Đo trục của (2) đến mép đường chuẩn là 2,1m, đo trục sau của (2) đến mép đường chuẩn là 1,45m, đo trục sau của (2) đến đầu (1) là 09m.
- Vết dầu loang kích thước (0,7x0,8)m nằm tại mặt đường được ký hiệu là (3). Đo đầu (3) đến trục sau của (2) là 0,35m; đo đầu của (3) đến mép đường chuẩn là 1,4m.
- Vết máu màu đỏ kích thước (0,25x0,02)m nằm tại mặt đường ký hiệu là (4), đo tâm của (4) đến mép đường chuẩn là 1,55m, đo tâm của (4) đến tâm (3) là 01m.
- Đám vết cày kích thước 2,2m x 0,02cm tại mặt đường được ký hiệu là (5), đo đầu (5) đến mép đường chuẩn là 2,5m, đo cuối của (5) đến mép đường chuẩn là 3,1m, đo đầu của (5) đến đầu (1) là 2,3m.
- Xe mô tô biển kiểm soát 29S7- 019.99 được dựng chân chống phụ tại mặt đường. Phần đầu xe hướng về phía xã T- V, phần đuôi xe hướng thị xã S được ký hiệu là (6), đo trục trước của (6) đến mép đường chuẩn là 2,7m, đo trục sau của (6) đến mép đường chuẩn là 3,6m, đo trục trước của (6) đến đầu (3) là 0,95m.
- Vết máu kích thước (0,05x 0,03)m, nằm tại mặt đường ký hiệu (7), đo tâm của (7) đến mép đường chuẩn là 2,15m, đo tâm của (7) đến trục sau của (6) là 1,7m.
- Đám mảnh nhựa vợ, 01 chiếc dép, mũ bảo hiểm kích thước (8,3x3,4)m nằm rải rác tại mặt đường được ký hiệu (8), đo tâm của (8) đến mép đường chuẩn là 1,7m, đo tâm của (8) đến trục sau (2) là 3,5m, đo tâm của (8) đến tâm của (7) là 1,05m.
Quá trình khám nghiệm CQĐT thu giữ mẫu máu ở vị trí số (4) và vị trí số (7); một số mảnh nhựa vỡ, mũ bảo hiểm, dép ở vị trí số (8). Tạm giữ của bà Phan Thị T2 01 xe mô tô BKS 29L7 – 5608 nhãn hiệu SUZUKI; tạm giữ của Nguyễn Thị Hải Y 01 xe mô tô BKS 29S7- 019.99, nhãn hiệu HONDA, loại LEAD, màu xanh than.
Ngày 22/5/2024, Nguyễn Nguyễn Thị Hải Y giao nộp 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 19/4/2016; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 29 000137 của xe mô tô mang BKS 29S7-01999 cấp ngày 07/3/2023; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô biển kiểm soát 29S7-01999 cấp ngày 24/2/2024..
* Kết quả khám nghiệm phương tiện
Kết quả khám xe mô tô gắn biển kiểm soát 29L7- 5608, nhãn hiệu SUZUKI, sau khi va chạm để lại các dấu vết mới như sau:
Tại vị trí ốp nhựa phía trước tay lái bên trái có vết chà sát mài mòn nhựa hướng từ trước về sau, từ phải qua trái kích thước (6x2)cm. Tại vị trí điểm đầu tay lái bên trái khu vực ốp kim loại có vết chà sát mài mòn kim loại hướng từ trước về sau kích thước (2,5x1,5)cm; Tại vị trí phần cụm đèn chiếu sáng phía trước bị tác động lực làm gãy các chốt cố định để lệch cụm đèn thụt vào trong hướng từ trước về sau; Tại vị trí phần đầu chắn bùn trước bánh trước khu vực có ốp kim loại bị tác động lực có vết chà sát mài mòn kim loại kích thước (5x4)cm, hướng từ trái sang phải; Tại vị trí bàn để chân người lái phía trước bên phải bị tác động của lực làm đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu, phần thân ép sát vào lốc máy. Tại thời điểm khám nghiệm khu vực bàn để chân không có đệm cao su, phần bàn để chân bám dính lông, tóc sợi, các chất màu nâu đỏ đã khô chảy lan sang phần vỏ ốp nhựa sườn xe bên phải trên diện (50x35)cm; Tại vị trí khu vực cụm đèn phía sau đèn báo hãm và đèn xi nhan xin đường hai bên và phần ốp nhựa liền kề bị tác động một lực làm vỡ nhựa bảo vệ cụm đèn hướng từ trước về sau, kích thước (20x15)cm; Tại vị trí biển kiểm soát gắn phía sau xe bị tác động của lực làm cong vênh biến dạng hướng tác động từ ngoài vào tâm trục bánh xe, điểm tác động mạnh nhất cách chân van ngược chiều kim đồng hồ 40cm. Các nan hoa bị đứt gãy tại khu vực bị tác động, phần lốp xe bị xịt hơi, phần trục bánh xe phía sau bị đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu hướng từ trước về sau; Tại mặt sau hộp bảo vệ xích bị cong vênh, móp méo kim loại trên diện (14x4)cm hướng tác động lực từ sau về trước.
Kết quả khám xe mô tô gắn biển kiểm soát 29S7- 019.99, nhãn hiệu HONDA, loại LEAD, màu xanh than, sau khi va chạm để lại các dấu vết mới như sau:
Vị trí ốp nhựa phía trước đầu xe có vết chà sát mài mòn nhựa hướng từ trước về sau kích thước (17x12)cm; Tại vị trí ốp nhựa phía tay lái bên trái, bên phải cụm đèn chiếu sáng phía trước bị tác động lực làm gãy vỡ nhựa, bung rời, gãy chốt cố định trên diện (45x20)cm, hướng tác động từ trước về sau; Tại vị trí mặt nạ phía trước đầu xe cụm đèn xi nhan hai bên bị tác động của lực làm gãy vỡ nhựa, bung rời khỏi xe để lộ các chi tiết bên trong hướng từ trước về sau, tâm khu vực này cách mặt đường 70cm, phần ốp kim loại bảo vệ sườn xe hai bên bị tác động của lực làm gãy chốt cố định bung rời khỏi vị trí ban đầu; Tại vị trí chắn bùn trước phía trước vỡ nhựa kích thước (35x15)cm, tâm vùng này cách mặt đường 50cm; Tại vị trí phần mặt lăn của bánh trước phần má bên trái bánh trước và phần vành kim loại tiếp giáp phần má này bị tác động có vết chà sát rách cao su, cong vênh kim loại hướng từ phần mặt lăn về phía trung tâm trục bánh xe trên diện (7x6)cm, cách tâm vùng này 4cm theo hướng tiến của bánh xe có vết chà sát mài mòn cao su tại phần má bên trái kích thước (20x1,5)cm, phần trục bánh trước bị tác động lực đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu hướng từ trước về sau. Tại vị trí ốp nhựa phía sau đầu xe bên phải bên trái bị tác động làm gãy vỡ các chốt hãm cố định, vỡ nhựa kéo dài từ trên xuống dưới gầm xe.
* Giám định tử thi:
Ngày 27/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 768, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định pháp y tử thi đối với Nguyễn Hoàng T3.
Ngày 02/5/2024, Trung tâm pháp y tỉnh V có bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 35/KLGĐTT-PYVP, kết luận:
- Ít vết thương sây sát da, rách da cơ. Chấn thương sọ não nặng: Vỡ xương sọ vùng trán trái, tổ chức não vùng trán trái dập nát thoát ra ngoài.
- Kết luận: Nguyên nhân tử vong - Chấn thương sọ não nặng;
- Cơ chế hình thành thương tích - Thương tích đã mô tả trên có thể là do vật tày có cạnh gây nên.
* Giám định nồng độ cồn, ma túy:
Ngày 28/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 771, 772 trưng cầu phòng K- Công an tỉnh V giám định nồng độ cồn, chất ma túy trong mẫu máu thu trong cơ thể Nguyễn Thị Hải Y.
Ngày 02/5/2024 Phòng K- Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 1182/KLGĐ, kết luận: Không phát hiện thấy có cồn(E) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là mẫu máu thu của chị Nguyễn Thị Hải Y gửi đến giám định.
Ngày 05/5/2024, Phòng K- Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 1194/KLGĐ, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Morphine, H1, Methamphetamine, MDMA, Ketamine, 2C-B, C, D1 và TFMPP) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi mẫu máu thu của chị Nguyễn Thị Hải Y gửi đến giám định.
Ngày 28/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 769, 770 trưng cầu phòng K- Công an tỉnh V giám định nồng độ cồn, chất ma túy trong mẫu máu thu trong cơ thể bà Phan Thị T2.
Ngày 02/5/2024 Phòng K- Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 1183/KLGĐ, kết luận: Không phát hiện thấy có cồn(E) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi là mẫu máu thu của bà Phan Thị T2 gửi đến giám định.
Ngày 05/5/2024, Phòng K- Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 1195/KLGĐ, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Morphine, H1, Methamphetamine, MDMA, Ketamine, 2C-B, C, D1 và TFMPP) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ ghi mẫu máu thu của bà Phan Thị T2 gửi đến giám định.
* Định giá tài sản:
Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 2000 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V định giá xác định thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 29L7- 5608 sau khi xảy ra tai nạn.
Ngày 04/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V có Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTTHS, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 29L7- 5608 là 1.890.000₫.
Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 2001 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V định giá xác định thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 29S7- 019.99 sau khi xảy ra tai nạn.
Ngày 04/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V có Bản kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTTHS, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 29S7- 019.99 là 3.080.000₫.
* Giám định thương tích:
Ngày 08/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 872, 873, 874, 875 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định pháp y về thương tích đối với bà Phan Thị T2, Nguyễn Thị Hải Y, cháu Nguyễn Xuân H, cháu Nguyễn Xuân D. Cơ quan điều tra đã nhiều lần tống đạt, yêu cầu bà Phan Thị T2, Nguyễn Thị Hải Y, cháu Nguyễn Xuân H, cháu Nguyễn Xuân D đi giám định thương tích theo quy định. Tuy nhiên, bà T2, Y, cháu D, cháu H và người giám hộ của 02 cháu đã có đơn xin từ chối giám định thương tích, xin tự khắc phục hậu quả. Ngày 13/5/2024 và ngày 24/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra quyết định dẫn giải số 942, 1014 yêu cầu bà Phan Thị T2, Nguyễn Thị Hải Y có mặt tại Trung tâm pháp y tỉnh V để giám định thương tích làm căn cứ giải quyết vụ việc. Tuy nhiên, bà T2, Y đều kiên quyết từ chối chấp hành quyết định dẫn giải. Do vậy Cơ quan điều tra không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Phan Thị T2, Nguyễn Thị Hải Y, cháu Nguyễn Xuân H, cháu Nguyễn Xuân D.
Cơ quan điều tra đã thông báo các kết luận giám định, kết luận định giá tài sản nêu trên cho Nguyễn Thị Hải Y, bà Phan Thị T2, đại diện gia đình tử thi Nguyễn Hoàng T3 biết. Tất cả đều đồng ý và không thắc mắc gì.
Đối với bà Phan Thị T2 là người chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định nhưng đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29L7- 5608 chở theo phía sau là anh Nguyễn Hoàng T3 tham gia giao thông trên cầu V hướng từ huyện V đi thị xã S. Khi đang đi đúng phần đường, chiều đường theo quy định thì bất ngờ bị xe mô tô biển kiểm soát 29S7- 019.99 do Nguyễn Thị Hải Y đi cùng chiều phía sau đâm vào gây tai nạn giao thông làm anh Nguyễn Hoàng T3 tử vong. Xét thấy đây là sự kiện bất ngờ nên bà Phan Thị T2 không có lỗi trong việc để xảy ra tai nạn. Do vậy, hành vi nêu trên của bà T2 không cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điều 260 bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi tham gia giao thông bà Phan Thị T2 chưa có giấy phép lái xe mô tô, không có Giấy đăng ký xe theo quy định, không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực đã vi phạm các điểm a, khoản 2, Điều 17; điểm a, khoản 2, điều 21; điểm a, khoản 5, Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ). Ngày 22/7/2024, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 200/QĐ đối với bà Phan Thị T2 với các hành vi nêu trên theo quy định.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 29S7-019.99 cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 29 000137 của xe mô tô mang BKS 29S7-019.99 cấp ngày 07/3/2023; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô biển kiểm soát 29S7-019.99 cấp ngày 24/2/2024. Qua điều tra xác định là tài sản và giấy tờ cá nhân của Nguyễn Thị Hải Y, ngày 14/6/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và giấy tờ xe cho Y.
Đối với xe mô tô BKS 29L7-5608, nhãn hiêu Suzuki Best màu sơn xanh, đã cũ, đã qua sử dụng đứng tên chủ sở hữu là bà Phạm Thị Bích H2, sinh năm 1959 ở Số B phố C, phường C, quận H, TP Hà Nội. Quá trình điều tra xác định: Khoảng năm 2015, bà H2 đã bán xe mô tô trên cho một người ở Hà Nội với giá 5.000.000đ, do đã lâu nên bà H2 không nhớ là ai, khi bán không viết giấy tờ mua bán gì. Năm 2023, bà T2 mua lại xe mô tô trên của một người đàn ông lạ mặt ở thị xã S, thành phố Hà Nội với giá 1.500.000 đồng, để phục vụ đi lại. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu kết quả xe mô tô trên không thuộc xe vật chứng. Do vậy cần xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị T2. Ngày 14/6/2024 Cơ quan CSĐT đã trao trả xe mô tô trên cho bà T2 quản lý và sử dụng.
Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 19/4/2016 cho Nguyễn Thị Hải Y được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Đối với mẫu máu thu tại vị trí số (4), (7) ở hiện trường, một số mảnh nhựa vỡ, mũ bảo hiểm, 01 chiếc dép tại vị trí số (8) ở hiện trường, mẫu máu tử thi Nguyễn Hoàng T3 là vật chứng liên quan đến vụ án, đề nghị tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thị Hải Y đã tự nguyện bồi thường cho gia đình tử thi Nguyễn Hoàng T3 số tiền 110.000.000đ; bà Nguyễn Thị T4 tự nguyện hỗ trợ gia đình tử thi Nguyễn Hoàng T3 số tiền 110.000.000đ. Đại diện gia đình bị hại Nguyễn Hoàng T3 đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu đề nghị ai phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác.
Đối với hư hỏng của xe mô tô BKS: 29S7 – 5608 và xe mô tô BKS 29L7 – 019.99 bà Phan Thị T2 và Nguyễn Thị Hải Y xin tự khắc phục hậu quả không yêu cầu ai bồi thường.
Đối với thương tích của bà Phan Thị T2, cháu Nguyễn Xuân D, cháu Nguyễn Xuân H bà T2 và người đại diện cho 02 cháu xin tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu ai bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số: 99/CT-VKSVT ngày 20 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố Nguyễn Thị Hải Y về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX:
Áp dụng: khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 2, 5 Điều 65; Điều 47; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTHQH14 quy định về án phí.
Tuyên bố: Nguyễn Thị Hải Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Nguyễn Thị Hải Y từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, tính từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng.
Về bồi thường dân sự: Xác nhận đã bồi thường đủ cho đại diện bị hại
Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý vật chứng, án phí của vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Hải Y khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo thừa nhận đã có hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông vi phạm các quy định của luật giao thông đường bộ (không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ) gây tai nạn, làm anh Nguyễn Hoàng T3 tử vong vào buổi chiều ngày 27/4/2024 tại Km 4 + 200 đường Q (lòng đường cầu V) thuộc địa phận thôn H, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng và không có lời bào chữa nào khác.
Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của chính bị cáo, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám xét phương tiện, kết luận giám định, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Hành vi của Nguyễn Thị Hải Y đã vi phạm phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008; khoản 2 Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Khoản 1, Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định: “1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình....”
Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 31 quy định: “1. Khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình...”
Từ đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị Hải Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
Điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người...”.
3. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng,
hành vi phạm tội của bị cáo xâm hại đến các quy định chung về trật tự công cộng, an toàn xã hội, gây thiệt hại đến tính mạng người khác, gây dư luận xấu và tâm lý hoang mang cho người dân khi tham gia giao thông. Do vậy phải đưa ra xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy rằng: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện, tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là nữ giới đang nuôi con nhỏ, là người có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo một mức án tù nhưng cho hưởng án treo, cũng đủ để dăn đe đối với bị cáo.
Tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị cấm....hành nghề....từ 01 năm đến 05 năm”. Xét bị cáo không hành nghề lái xe chuyên nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
4. Đối với bà Phan Thị T2
là người chưa có giấy phép lái xe mô tô theo quy định nhưng đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29L7- 5608 chở theo phía sau là anh Nguyễn Hoàng T3 tham gia giao thông trên cầu V hướng từ huyện V đi thị xã S. Khi đang đi đúng phần đường, chiều đường theo quy định thì bất ngờ bị xe mô tô biển kiểm soát 29S7- 019.99 do Nguyễn Thị Hải Y đi cùng chiều phía sau đâm vào gây tai nạn giao thông làm anh Nguyễn Hoàng T3 tử vong. Xét thấy đây là sự kiện bất ngờ nên bà Phan Thị T2 không có lỗi trong việc để xảy ra tai nạn. Do vậy, hành vi nêu trên của bà T2 không cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điều 260 bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi tham gia giao thông bà Phan Thị T2 chưa có giấy phép lái xe mô tô, không có Giấy đăng ký xe theo quy định, không có Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực đã vi phạm các điểm a, khoản 2, Điều 17; điểm a, khoản 2, điều 21; điểm a, khoản 5, Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt (được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ). Ngày 22/7/2024, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 200 đối với bà Phan Thị T2 với các hành vi nêu trên theo quy định là phù hợp.
5. Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 29S7-019.99 cùng 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô số 29 000137 của xe mô tô mang BKS 29S7-019.99 cấp ngày 07/3/2023; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô biển kiểm soát 29S7-019.99 cấp ngày 24/2/2024. Qua điều tra xác định là tài sản và giấy tờ cá nhân của Nguyễn Thị Hải Y, ngày 14/6/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và giấy tờ xe cho Y là phù hợp.
Đối với xe mô tô BKS 29L7-5608, nhãn hiêu Suzuki Best màu sơn xanh, đã cũ, đã qua sử dụng đứng tên chủ sở hữu là bà Phạm Thị Bích H2, sinh năm 1959 ở Số B phố C, phường C, quận H, TP Hà Nội. Quá trình điều tra xác định: Khoảng năm 2015, bà H2 đã bán xe mô tô trên cho một người ở Hà Nội với giá 5.000.000đ, do đã lâu nên bà H2 không nhớ là ai, khi bán không viết giấy tờ mua bán gì. Năm 2023, bà T2 mua lại xe mô tô trên của một người đàn ông lạ mặt ở thị xã S, thành phố Hà Nội với giá 1.500.000 đồng, để phục vụ đi lại. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu kết quả xe mô tô trên không thuộc xe vật chứng. Do vậy cần xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị T2. Ngày 14/6/2024 Cơ quan CSĐT đã trao trả xe mô tô trên cho bà T2 quản lý và sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 19/4/2016 cho Nguyễn Thị Hải Y được chuyển theo hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị được nhận lại giấy phép lái xe để tham gia giao thông, nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với mẫu máu thu tại vị trí số (4), (7) ở hiện trường, một số mảnh nhựa vỡ, mũ bảo hiểm, 01 chiếc dép tại vị trí số (8) ở hiện trường, mẫu máu tử thi Nguyễn Hoàng T3 không có giá trị sử dụng, cần tiêu hủy.
6. Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thị Hải Y đã tự nguyện bồi thường cho gia đình tử thi Nguyễn Hoàng T3 số tiền 110.000.000đ; bà Nguyễn Thị T4 tự nguyện hỗ trợ gia đình tử thi Nguyễn Hoàng T3 số tiền 110.000.000đ. Đại diện gia đình tử thi Nguyễn Hoàng T3 đã nhận đủ số tiền này và không có yêu cầu đề nghị ai phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác. Nên HĐXX xác nhận việc bồi thường thiệt hại dân sự đã xong.
Đối với hư hỏng của xe mô tô BKS: 29S7 – 5608 và xe mô tô BKS 29L7 – 019.99 bà Phan Thị T2 và Nguyễn Thị Hải Y xin tự khắc phục hậu quả không yêu cầu ai bồi thường nên HĐXX không xem xét trong vụ án.
Đối với thương tích của bà Phan Thị T2, cháu Nguyễn Xuân D, cháu Nguyễn Xuân H bà T2 và người đại diện cho 02 cháu xin tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu ai bồi thường gì nên HĐXX không xem xét trong vụ án.
7. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Thị Hải Y phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 585; Điều 591 Bộ luật dân sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hải Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Xử phạt: Nguyễn Thị Hải Y 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Hải Y cho UBND xã Q, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87, Điều 93 Luật thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo có thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận bị cáo Nguyễn Thị Hải Y đã bồi thường đủ số tiền 110.000.000 đồng; bà Phan Thị T2 đã hộ trợ tổn thất số tiền 110.000.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nguyễn Văn T1.
- Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho Nguyễn Thị Hải Y 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 19/4/2016 (đã trả ngày 10/9/2024).
- Tịch thu tiêu hủy: Đối với mẫu máu thu tại vị trí số (4), (7) ở hiện trường, một số mảnh nhựa vỡ, mũ bảo hiểm, 01 chiếc dép tại vị trí số (8) ở hiện trường.
(vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận giữ cơ quan điều tra và chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc)
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Hải Y phải chịu nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đỗ Thành Công |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hải Yến phạm tội vi phạm quy định về TGGT đường bộ
