Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/HS-ST

Ngày: 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thưởng

2. Ông Lưu Đình Túy

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2025/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Thị Ú, sinh năm: 1977; Nơi cư trú: S P, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ căn cước công dân: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngô Sỹ N (chết) và bà: Đỗ Thị N1 (chết); Có chồng: Lê Ngọc S, sinh năm 1970 và có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ ngày 14/11/2024 đến ngày 22/11/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Lê Thị H, sinh năm: 1981; địa chỉ: B T, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 05/6/2024 đến 14/11/2024, Ngô Thị Ú đã cho chị Lê Thị H vay 03 gói vay theo hình thức vay thăm với lãi suất cao hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Cụ thể:

  • - Gói 1: Ngày 05/6/2024, chị H liên hệ hỏi vay Ú 100.000.000 đồng, Ú đồng ý cho vay theo hình thức vay thăm trong thời hạn 50 ngày, cắt trước 15.000.000 đồng tiền lãi (lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày) tương đương mức lãi suất vay 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định, mỗi ngày thu 2.000.000 đồng tiền gốc. Ú yêu cầu chị H viết giấy mượn tiền, sau đó đưa cho chị H 85.000.000 đồng, 05 ngày một lần chị H phải trả cho Ú 10.000.000 đồng tiền gốc vay. Số tiền lãi tối đa Ú được thu theo quy định là 2.739.726 đồng, số tiền Ú thu lợi bất chính được xác định là 12.260.274 đồng. Chị H đã trả hết tiền gốc vay cho Ú.
  • - Gói 2: Ngày 22/8/2024, chị H tiếp tục vay Ú 100.000.000 đồng (số tiền này lấy từ tiền gốc của gói vay thứ nhất). Ú cho vay theo hình thức vay thăm trong thời hạn 50 ngày, cắt trước 15.000.000 đồng tiền lãi (lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày) tương đương mức lãi suất vay 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định, mỗi ngày thu 2.000.000 đồng tiền gốc. Tuy nhiên, chị H và Ú thỏa thuận tính thời điểm vay từ ngày 30/8/2024. Ú yêu cầu chị H viết giấy mượn tiền, sau đó Ú sử dụng tài khoản ngân hàng S1 chuyển 85.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng S2 số 6868636868 của chị H, 10 ngày một lần chị H phải trả cho Ú 20.000.000 đồng tiền gốc vay. Số tiền lãi tối đa Ú được thu theo quy dịnh là 2.739.726 đồng, số tiền Ú thu lợi bất chính được xác định là 12.260.274 đồng. Chị H đã trả hết tiền gốc vay cho Ú.
  • - Gói 3: Ngày 09/11/2024 (ngày 09/10/2024 âm lịch), chị H tiếp tục vay Ú 100.000.000 đồng (số tiền này lấy từ tiền gốc của gói vay thứ hai). Ú cho vay theo hình thức vay thăm trong thời hạn 50 ngày, cắt trước 15.000.000 đồng tiền lãi (lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày) tương đương mức lãi suất vay 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định, mỗi ngày thu 2.000.000 đồng tiền gốc. Ú yêu cầu chị H viết giấy mượn tiền, sau đó Ú sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển 85.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng S2 số 6868636868 của chị H (bao gồm 35.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số 0912035560 và 50.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng A số 09/2035560), Ú sử dụng số tiền chị H trả tiền gốc vay của gói vay trước để tiếp tục cho chị H vay), 05 ngày một lần chị H phải trả cho Ú 10.000.000 đồng tiền gốc vay. Số tiền lãi tối đa Ú được thu theo quy định là 2.739.726 đồng, số tiền Ú thu lợi bất chính được xác định là 12.260.274 đồng. Đến ngày 14/11/2024, hành vi của Ú bị phát hiện nên đến nay chị H chưa trả tiền gốc vay cho Ú.

Trong khoảng thời gian từ 05/6/2024 đến ngày 14/11/2024, Ngô Thị Ú đã cho chị Lê Thị H vay 03 lần tiền với lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền Ú sử dụng cho vay là 100.000.000 đồng; tổng số tiền lãi chị H đã trả cho Ú là 45.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi tối đa Ú được thu theo quy định là 8.219.178 đồng, số tiền Ú thu lợi bất chính là 36.780.822 đồng.

Ngày 14/11/2024, Ngô Thị Ú đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.

Về phần dân sự: Chị Lê Thị H yêu cầu bị cáo Ngô Thị Ú phải trả lại số tiền lãi vượt quá quy định mà Ngô Thị Ú đã nhận.

Về vật chứng: Ngày 14/11/2024, chị Lê Thị H giao nộp 03 bản phô tô giấy mượn tiền khi vay của Ngô Thị Ú được đưa vào hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết quả điều tra đã xác định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đầy đủ lời khai.

Cáo trạng số 57/CT- VKSTP ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Ngô Thị Ú về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47 BLHS đối với bị cáo Ngô Thị Út . Đề nghị phạt tiền bị cáo Ngô Thị Ú từ 80.000.000₫ đến 100.000.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp:

  • + Truy thu số tiền lãi bị cáo thu được tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật Dân sự 8.219.178 đồng.
  • + Buộc bị cáo Ngô Thị Ú phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Lê Thị H số tiền 36.780.822 đồng.
  • + Truy thu số tiền gốc 100.000.000đ chị Lê Thị H chưa trả cho Ngô Thị U.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân khi phạm tội và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.

[2]. Các căn cứ là tình tiết định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, báo cáo và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/11/2024 Ngô Thị Ú đã cho chị Lê Thị H vay 03 lần tiền với lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 BLDS. Tổng số tiền Ú sử dụng cho vay là 100.000.000đ; tổng số tiền lãi người vay đã trả cho Ú là 45.000.000đ, trong đó số tiền lãi tối đa Ú được thu theo quy định là 8.219.178đ, số tiền Ú thu lợi bất chính là 36.780.822₫.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Ngô Thị Ú phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tính chất vụ án: Lợi dụng sự thiếu hiểu biết và do nhu cầu cần vay tiền của một số cá nhân, bị cáo đã cho vay với lãi suất cao nhằm thu lời bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo nhận thức đầy đủ pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích vụ lợi và thái độ xem thường pháp luật nên vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4]. Trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo phạm tội thuộc loại ít nghiêm trọngnên khi quyết định hình phạt không cần thiết phải buộc bị cáo phải cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương mà áp dụng Điều 35 BLHS phạt bị cáo một khoản tiền là hình phạt chính để nộp Ngân sách Nhà nước cũng đủ sức răn đe giáo dục.

[5]. Về biện pháp tư pháp:

  • - Đối với số tiền lãi theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 468 BLDS; Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017, Ngô Thị Ú đã thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là 8.219.178 đồng. Xác định đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo toàn bộ số tiền lãi này để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền thu lời bất chính: Buộc Ngô Thị Ú phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Lê Thị H số tiền 36.780.822₫.
  • - Truy thu của chị Lê Thị H số tiền gốc vay chưa thanh toán cho bị cáo Ngô Thị Ú số tiền 100.000.000đ.

[6]. Về án phí: Đối với khoản thu lời bất chính bị cáo phải trả lại cho người vay tiền, căn cứ vào Điều 23, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 thì không buộc bị cáo phải chịu án phí.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 201; điểm I, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 47 BLHS; Khoản 1, 2 Điều 106; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Thị Ú phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Thị Ú số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

  • Truy thu từ bị cáo Ngô Thị Ú số tiền do phạm tội mà có 8.219.178 đồng ( tám triệu hai trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi tám đồng) để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước.
  • Truy thu của chị Lê Thị H số tiền số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
  • Buộc bị cáo Ngô Thị Ú phải trả lại số tiền thu lời bất chính cho chị Lê Thị H số tiền 36.780.822 đồng ( ba mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn tám trăm hai mươi hai đồng).

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TP. Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 98/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger