Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày 16-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Công Bằng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trịnh Văn Mễn.
  • - Ông Trần Phạm Hoàng Long.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Văn H (tên gọi khác: T), sinh ngày 01/01/1991 tại Bạc Liêu.

Nơi cư trú: Số A, ấp C, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm N, sinh năm: 1963 và bà Kim Thị H1, sinh năm: 1965; A, chị, em ruột: Có 08 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1999;

Tiền án: 02 lần:

  • - Ngày 30/6/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (theo bản án số 10/2015/HSST), đã xác định “tái phạm nguy hiểm”, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích;
  • - Ngày 26/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 03 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (theo bản án số 70/2020/HSST), đã xác định “tái phạm nguy hiểm”, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích;

Tiền sự: Không

Nhân thân:

  • - Ngày 25/8/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Bạc Liêu (nay là thành phố B), tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (theo bản án số 76/2006/HSST), đã chấp hành xong hình phạt tù.
  • - Ngày 27/6/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (theo bản án số 28/2007/HSST).
  • - Ngày 16/8/2007, Tòa án nhân dân thị xã Bạc Liêu (nay là thành phố B), tỉnh Bạc Liêu xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với bản án số 28/2007/HSST của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu, buộc Lâm Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm 06 tháng tù giam (theo bản án số 79/2007/HSST), đã chấp hành xong hình phạt tù.

Bị khởi tố bị can ngày 31/7/2023 sau đó bỏ trốn và bị truy nã. Đến ngày 25/3/2024 bị bắt theo Quyết định truy nã và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đến nay. “có mặt”.

- Bị hại: 1/. Bà Võ Thị Thanh T1, sinh năm 1979. Nơi ĐKKHKTT: ấp T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: ấp C, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”.

2/. Bà Trần Thị N1, sinh ngày 01/01/1969. Nơi ĐKKHKTT: ấp M, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở hiện nay: ấp K, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lâm Văn H là người nghiện ma tuý và không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng nên tìm tài sản của người khác để trộm bán lấy tiền tiêu xài. Trong thời gian từ tháng 5/2023 đến tháng 01/2024, tại địa bàn huyện H và thành phố B, tỉnh Bạc Liêu bị cáo H đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 31/5/2023, bị cáo H đi bộ trên đường tỉnh lộ 38 thuộc ấp C, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Khi đi ngang nhà không số, đối diện quán cà phê Sông H2, quan sát thấy nhà không đóng cửa và không mở đèn nên bị cáo H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Thực hiện ý định này, bị cáo H đi vào nhà thấy anh Hà Chánh T2 và chị Võ Thị Thanh T1 đang nằm ngủ, dưới chân anh T2 và chị T1 có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, kiểu máy Y22S, màu xám đang cắm sạc; bị cáo H dùng tay rút dây sạc để lấy điện thoại. Lúc này, do tay của bị cáo H chạm vào chân làm anh T2 giật mình thức dậy, phát hiện có người lạ nên anh T2 dùng tay chụp lấy tay của bị cáo H nhưng không bắt được do bị cáo H giằng tay ra chạy thoát. Đến ngày 01/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B kết hợp với Công an xã V mời bị cáo H làm việc đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp điện thoại di động chiếm đoạt. Tuy nhiên, sau đó bị cáo Lâm Văn H đã bỏ trốn và bị truy nã.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 109/KL-HĐĐGTS, ngày 27/6/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, kết luận: “01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, kiểu máy Y22S, màu xám, số IMEI 1: 866855068521079, số IMEI 2: 866855062521061, bộ nhớ 128GB, Ram 8GB, đã qua sử dụng, mua vào tháng 12/2022. Tính đến ngày 31/5/2023 giá trị thành tiền còn lại là: 4.761.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn đồng)”.

Tại Bản kết luận giám định số: 5959/KL-KTHS, ngày 13/10/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Bộ C về giám định kiểu gen (ADN) như sau: “Phân tích được 01 kiểu gen nam giới từ dấu vết màu nâu đỏ dính trên tấm ga nệm trùng với kiểu gen của Lâm Văn H”.

- Lần thứ hai: Trong quá trình trốn truy nã, bị cáo Lâm Văn H ở nhà của chị ruột tên Lâm Thị Hoài M, sinh năm 1986 tại ấp M, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Vào khoảng 00 giờ ngày 19/01/2024, sau khi nhậu xong bị cáo H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác nên đi đến nhà của bà Trần Thị N1 (ở cạnh nhà chị M), thấy nhà khóa cửa nhưng chìa khóa vẫn còn cắm trên ổ khóa nên bị cáo H mở cửa đi vào. Khi vào nhà, bị cáo H nhìn thấy bà N1 đang ngủ trên giường nhà trước, bên cạnh có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7, màu xanh, liền đến lấy điện thoại cất giấu vào túi quần; bị cáo H tiếp tục đi vào phòng nhìn thấy trên bàn có 01 (một) bóp màu đen, lấy 11.000.000 đồng bên trong rồi tẩu thoát. Sau đó, bị cáo H mang điện thoại trộm được bán cho một người thanh niên (không rõ nhân thân) với số tiền 1.000.000 đồng, đã chi xài cá nhân hết. Đến ngày 25/3/2024, bị cáo H bị bắt theo quyết định truy nã.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 41/KL-HĐĐGTS ngày 31 tháng 5 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu kết luận: “01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7, màu xanh, bộ nhớ 256GB, Ram 8GB, đã qua sử dụng, mua vào tháng 9/2023 với giá 6.990.000 đồng, không thu hồi được. Tính đến ngày 19/01/2024 có giá trị thành tiền còn lại là: 5.948.085 đồng (Năm triệu chín trăm bốn mươi tám nghìn không trăm tám mươi lăm đồng)”.

Tại bản Cáo trạng số 93/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Lâm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Lâm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Văn H từ 03 năm đến 04 năm tù.
  • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy đối với: 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có ghi “Quần áo và nón kết của Lâm Văn H trong vụ án hình sự Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 31/5/2023 tại ấp C, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu”, có chữ ký xác nhận của Lâm Văn H, Kiều Thanh S, đóng dấu tròn màu đỏ của Công an xã V, thành phố B. Gói niêm phong còn nguyên vẹn.
  • - 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có ghi “Mảnh vải cắt từ ga nệm và mẫu máu còn lại sau giám định” có chữ ký xác nhận của Điều tra viên Ngô Trường G và hình dấu Cơ quan CSĐT Công an thành phố B.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, loại cảm ứng, màu xám, đã qua sử dụng là của chị Võ Thị Thanh T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị T1 là phù hợp.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lâm Văn H có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị N1 số tiền 16.948.085 đồng.
  • + Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Lâm Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Lâm V đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Lâm Văn H tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại bà Võ Thị Thanh T1, bà Trần Thị N1 về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị chiếm đoạt; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ chứng minh:

Vì động cơ vụ lợi bất chính, mặc dù có tiền án xác định là tái phạm nguy hiểm, chưa được xoá án tích nhưng từ ngày 31/5/2023 đến ngày 19/01/2024, tại địa bàn huyện T và huyện H, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Lâm Văn H có hành vi lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, kiểu máy Y22S, màu xám, bộ nhớ 128GB, Ram 8GB, đã qua sử dụng của chị Võ Thị Thanh T1, có giá trị thành tiền là 4.761.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7, màu xanh, bộ nhớ 256GB, Ram 8GB, đã qua sử dụng, có giá trị thành tiền là 5.948.085 đồng cùng với số tiền 11.000.000 đồng của bà Trần Thị N1. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 21.709.085 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm lẻ chín nghìn không trăm tám mươi lăm đồng).

Hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác của bị cáo Lâm Văn H là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Lâm Văn H có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để nhằm giáo dục và nhằm răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Đối với, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Lâm Văn H có hai tiền án về tội trộm cắp tài sản, trong đó bán án số 70/2015/HS-ST, ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản' đã xác định “Tái phạm nguy hiểm', đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/03/2023, tính đến ngày phạm tội là ngày 31/5/2023, bản án chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo H phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Tái phạm nguy hiểm', được quy định điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội 02 lần nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lâm Văn H có hành vi trộm cắp tài sản, bị hại có yêu cầu bồi thường. Căn cứ Điều 584, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Lâm Văn H có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị N1 số tiền 16.948.085 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy đối với: 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có ghi “Quần áo và nón kết của Lâm Văn H trong vụ án hình sự Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 31/5/2023 tại ấp C, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu”, có chữ ký xác nhận của Lâm Văn H, Kiều Thanh S, đóng dấu tròn màu đỏ của Công an xã V, thành phố B. Gói niêm phong còn nguyên vẹn.

  • - 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có ghi “Mảnh vải cắt từ ga nệm và mẫu máu còn lại sau giám định” có chữ ký xác nhận của Điều tra viên Ngô Trường G và hình dấu Cơ quan CSĐT Công an thành phố B.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo, loại cảm ứng, màu xám, đã qua sử dụng là của chị Võ Thị Thanh T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị T1 là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Văn H (tên gọi khác: T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lâm Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 25/3/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Lâm Văn H có trách nhiệm bồi thường cho bà Trần Thị N1 số tiền 16.948.085 đồng. (Mười sáu triệu, chín trăm bốn mươi tám nghìn, không trăm tám mươi lăm đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án cón phải chịu thêm tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy đối với: 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có ghi “Quần áo và nón kết của Lâm Văn H trong vụ án hình sự Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 31/5/2023 tại ấp C, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu”, có chữ ký xác nhận của Lâm Văn H, Kiều Thanh S, đóng dấu tròn màu đỏ của Công an xã V, thành phố B. Gói niêm phong còn nguyên vẹn.

  • - 01 (một) gói niêm phong, trên gói niêm phong có ghi “Mảnh vải cắt từ ga nệm và mẫu máu còn lại sau giám định” có chữ ký xác nhận của Điều tra viên Ngô Trường G và hình dấu Cơ quan CSĐT Công an thành phố B.

Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Lâm Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 847.404 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Công Bằng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Văn Mễn

Trần Phạm Hoàng Long

Bùi Công B

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger