|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2025/DS-PT Ngày 25-02-2025 V/v tranh chấp về tài sản chung và thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
|
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: |
|
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Mộng Tuyết |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng |
| Ông Nguyễn Trung Dũng | |
|
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. |
|
|
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên- Kiểm sát viên. |
|
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 656/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về tài sản chung và thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 51/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Bùi Thị T, sinh năm 1954; địa chỉ: số D, cây G, tổ B, ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Bùi Thị N, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Bà Bùi Thị K, sinh năm 1966; địa chỉ: số I, Hồ Thị D, tổ C, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1980; địa chỉ: xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; địa chỉ liên hệ: khu phố Đ, thị trấn Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/7/2024 và ngày 17/6/2024), có mặt.
- Bị đơn:
Ông Bùi Văn L, sinh năm 1960; địa chỉ: ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Bùi Thị Ngọc L1, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp L, xã H, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 25/7/2024), có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Minh T1, sinh năm 1990;
- Bà Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Phan Minh T1 và bà Phan Thị Ngọc H: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1980; địa chỉ: xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; địa chỉ liên hệ: khu phố Đ, thị trấn Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/11/2022 và ngày 18/02/2023), có mặt.
- Bà Huỳnh Thị Trúc L2, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Huỳnh Thị G, sinh năm 1963; địa chỉ: ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Bùi Tấn L3, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người kháng cáo: nguyên đơn bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Minh T1, bà Phan Thị Ngọc H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/5/2022, quá trình tố tụng giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Cụ Nguyễn Thị G1 có cha tên Nguyễn Văn T2, mẹ tên Nguyễn Thị Đ, không rõ năm sinh, đều đã chết từ lâu, không rõ năm sinh, chết và đều chết trước cụ G1. Chồng cụ G1 tên Bùi Văn T3, sinh năm 1924, chết năm 1969, không có giấy chứng tử. Cụ Nguyễn Thị G1, sinh năm 1925, chết ngày 23/6/2018. Khi chết, cụ G1 không để lại di chúc. Cụ G1 và cụ T3 có tất cả 06 người con, cụ thể như sau: Bùi Văn N2, sinh năm 1945, hi sinh năm 1968 (liệt sĩ); Bùi Văn H1 (không rõ năm sinh), hi sinh năm 1968 (liệt sĩ); Bùi Thị T, sinh năm 1954; Bùi Văn L, sinh năm 1960; Bùi Thị N, sinh năm 1963 và Bùi Thị K, sinh năm 1966.
Khi chết, cụ G1 có để lại phần di sản thuộc các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D. Các thửa đất trên có nguồn gốc do cụ Nguyễn Thị G1 và các con là bà T, ông L, bà N, bà K khai phá mà có từ sau khi giải phóng năm 1975, đến năm 1976 thì khai phá xong. Năm 2003, bà K là người đứng ra làm thủ tục kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa 235, 277, 178 và 276, hiện nay bà K đang là người giữ bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02563 QSDĐ/QĐ-UB ngày 09/01/2004 được UBND huyện D cấp cho hộ cụ Nguyễn Thị G1. Cụ G1 chết và không để lại di chúc, các chị em trong gia đình yêu cầu chia thừa kế nhưng ông L không đồng ý.
Bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K yêu cầu chia tài sản chung của gia đình là quyền sử dụng đất có tổng diện tích 6382m² (đo đạc thực tế có diện tích 5957,3m² thuộc các thửa đất số 235 (2823,2m²), 276 (1796,7m²), 277 (428,5m²) và 278 (908,6m²) thuộc tờ bản đồ số 28 tọa lạc tại ấp R, xã T, huyện D được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02563 QSDĐ/QĐ-UB ngày 09/01/2004 cho hộ cụ Nguyễn Thị G1 đứng tên thành 04 phần bằng nhau tương ứng với diện tích đất là 1489,3m² cho cụ Nguyễn Thị G1, bà Bùi Thị K, anh Phan Minh T1 và chị Phan Thị Ngọc H, mỗi người được nhận phần tài sản bằng hiện vật là quyền sử dụng đất có diện tích 1489,3m². Chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị G1 là phần đất có diện tích 1489,3m² thành 04 phần cho 04 người con là Bùi Thị T, Bùi Thị N, Bùi Thị K và Bùi Văn L, mỗi người được nhận phần tài sản bằng hiện vật là quyền sử dụng đất có diện tích 372,3m².
Đối với tài sản trên đất là 01 căn nhà tình nghĩa của cụ G1, là di sản cụ G1 chết để lại thì các nguyên đơn không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các tài sản khác trên đất là của ông L, nguyên đơn không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo quyết về việc thu hồi đất của hộ bà Nguyễn Thị G1 để thực hiện công trình xây dựng hạ lưu các cống ngang đường ĐT744 đoạn qua địa bàn huyện D số 5046/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 của UBND huyện D và Phiếu chi số DT744/23 ngày 21/02/2023 của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện D thì hộ bà Nguyễn Thị G1 bị thu hồi diện tích đất 162,4m² và được nhận bồi thường số tiền 191.794.400 đồng. Do cụ G1 đã chết các con đã đứng ra nhận số tiền bồi thường 191.794.400 đồng nêu trên và đã chia đều cho 04 anh chị em trong gia đình là bà T, ông L, bà N và bà K mỗi người 47.948.600 đồng. Nguyên đơn không có ý kiến gì về sự việc này, không tranh chấp với số tiền trên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với yêu cầu phản tố của ông L thì các nguyên đơn không đồng ý vì ông L có canh tác trên đất nhưng đã thu được hoa lợi từ việc canh tác. Các nguyên đơn đồng ý với yêu cầu độc lập của anh T1 và chị H.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định đối với phần diện tích đất chênh lệch 424,7m² giữa diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6382m² và diện tích đất qua đo đạc thực tế 5957,3m² thì nguyên đơn rút yêu cầu đối với diện tích này và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn đồng ý với các chứng cứ là các kết quả xem xét thẩm định tại chỗ theo biên bản ngày 29/11/2022, sơ đồ bản vẽ thửa đất tranh chấp theo mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý tranh chấp số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D và kết quả định giá tài sản tranh chấp theo Biên bản định giá ngày 22/02/2023.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Đơn khởi kiện ngày 26/5/2022; bản sao căn cước công dân và sổ hộ khẩu; bản sao trích lục khai tử và trích lục khai sinh; đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí và án phí; hợp đồng ủy quyền.
Tại Đơn phản tố ngày 25/12/2023, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn trình bày:
Ông L là con của cụ Nguyễn Thị G1, là em trai của bà Bùi Thị T, là anh trai của bà Bùi Thị N và bà Bùi Thị K.
Cụ Nguyễn Thị G1 có cha tên Nguyễn Văn T2, mẹ tên Nguyễn Thị Đ, không rõ năm sinh, đều đã chết từ lâu và chết trước cụ G1. Chồng cụ G1 tên Bùi Văn T3, sinh năm 1924, chết năm 1969, không có giấy chứng tử. Cụ Nguyễn Thị G1, sinh năm 1925, chết ngày 23/6/2018. Cụ G1 và cụ T3 có tất cả 06 người con, cụ thể như sau: Bùi Văn N2, sinh năm 1945, hi sinh năm 1968 (liệt sĩ); Bùi Văn H1 (không rõ năm sinh), hi sinh năm 1968 (liệt sĩ); Bùi Thị T, sinh năm 1954; Bùi Văn L, sinh năm 1960; Bùi Thị N, sinh năm 1963 và Bùi Thị K, sinh năm 1966.
Các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D có nguồn gốc do mẹ là cụ Nguyễn Thị G1 cùng các con là bà T, ông L, bà N, bà K khai phá từ sau khi giải phóng năm 1975 mà có, đến năm 1976 thì khai phá xong. Sau giải phóng, ông L và cụ G1 cùng với bà T, bà K và bà N cùng sinh sống trên các thửa đất trên.
Khoảng năm 1976, bà T lấy chồng tại xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và không còn ở, sinh sống, canh tác trên đất.
Năm 1984, bà N lấy chồng tại ấp B, xã T, huyện D và không còn ở, sinh sống, canh tác trên đất.
Năm 1987, bà K lấy chồng ở xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và không còn ở, sinh sống, canh tác trên đất.
Riêng ông Bùi Văn L cùng sinh sống, nuôi dưỡng cụ G1 từ năm 1975 cho đến khi cụ G1 chết vào năm 2018. Hiện nay, ông L đang là người trực tiếp thờ cúng mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị G1 cùng 03 liệt sĩ là Bùi Văn T3, Bùi Văn N2 và Bùi Văn H1,
Do trong cuộc sống có mâu thuẫn với cụ G1 nên đến năm 1996, ông L tách hộ khẩu, không còn chung hộ khẩu với cụ G1. Ông L cất nhà ở sát bên nhà của cụ G1 và cùng trên phần đất mà gia đình đã khai phá được mà có từ sau năm 1975.
Ông L được biết, cụ G1 có đi thực hiện việc kê khai, đăng ký để được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2004 cho hộ cụ G1, tuy nhiên bà K đã lấy bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với sổ hộ khẩu của cụ G1 và giữ cho đến nay.
Quá trình ông L và cụ G1 sử dụng các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D: Ban đầu thì đất là trồng lúa, sầu riêng và một số cây ăn trái khác, hiện nay trên đất có cây cao su và một số cây trồng khác đã được Tòa án liệt kê theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp.
Ông L đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ theo biên bản ngày 29/11/2022, sơ đồ bản vẽ thửa đất tranh chấp theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý tranh chấp số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D và kết quả định giá tài sản tranh chấp theo Biên bản định giá ngày 22/02/2023.
Tại phiên tòa, ông L yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế của cụ G1 theo kết quả đo đạc thực tế tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý tranh chấp số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Thành viên trong hộ gia đình gồm cụ G1 và các con là T, L, Nốc, K đối với các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D theo quy định; phần di sản thừa kế của cụ G1 sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Ông L yêu cầu được nhận phần đất thuộc thửa 235 có diện tích 2.823,2m², lý do: thửa đất trên hiện nay có nhà của ông L và vợ là bà G xây dựng, có nhà tình nghĩa của cụ G1 hiện được ông L sử dụng là nơi thờ cúng cụ G1 và 03 liệt sĩ. Ông L đồng ý chia 03 thửa đất là thửa 276, 278 và 277 cho bà T, bà K, bà N. Đối với các cây trồng trên đất thì ai nhận được phần đất nào thì sẽ thanh toán lại giá trị cây trồng trên đất cho ông theo kết quả định giá ngày 22/02/2023.
Ông L có yêu cầu phản tố, yêu cầu bà T, bà K, bà N phải thanh toán lại số tiền 500.000.000 đồng là công sức gìn giữ, cải tạo đối với 04 thửa đất nêu trên.
Đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của chị H và anh T1 thì ông L không đồng ý.
Theo Quyết về việc thu hồi đất của hộ cụ Nguyễn Thị G1 để thực hiện công trình xây dựng hạ lưu các cống ngang đường ĐT 744 đoạn qua địa bàn huyện D số 5046/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 và Phiếu chi số DT744/23 ngày 21/02/2023 của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện D thì cụ Nguyễn Thị G1 được nhận số tiền 191.794.400 đồng. Do cụ G1 đã chết các con đã đứng ra nhận số tiền bồi thường 191.794.400 đồng nêu trên và đã chia đều cho 04 anh chị em trong gia đình là bà T, ông L, bà N và bà K mỗi người 47.948.600 đồng. Bị đơn không có ý kiến gì về sự việc này, không tranh chấp với số tiền trên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ bị đơn cung cấp: Đơn phản tố ngày 25/12/2023; bản sao căn cước công dân; bản sao giấy khai sinh; tường trình quan hệ nhân thân.
Tại Đơn yêu cầu độc lập ngày 08/01/2023, quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Minh T1 và bà Phan Thị Ngọc H trình bày:
Bà H và ông T1 có mối quan hệ là con của bà K. Bà T, bà K, bà N và ông L có mối quan hệ là con của cụ Nguyễn Thị G1.
Nguồn gốc của các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D có nguồn gốc do gia đình cụ Nguyễn Thị G1 khai phá mà có từ sau khi giải phóng năm 1975. Cụ G1 có đi thực hiện việc kê khai, đăng ký để được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2004 cho hộ cụ G1. Hộ cụ G1 tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì trong hộ khẩu gồm có cụ G1, bà K, bà H và ông T1.
Bà H và ông T1 không tranh chấp đối với tài sản trên đất. Khi chia tài sản chung chia di sản thừa kế thì ông T1 và bà H được chia phần đất bao nhiêu và trên phần đất được chia này có tài sản nào là của bị đơn ông L thì sẽ thanh toán lại giá trị tài sản trên đất cho ông L. Trên đất có 01 căn nhà tình nghĩa được xây dựng năm 1996 có diện tích 40m² là của cụ G1 (nhà tình nghĩa xây dựng cho mẹ Việt Nam anh hùng), chị H và ông T1 không yêu cầu chia đối với tài sản này.
Ông T1 và chị H yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình cụ G1 theo kết quả đo đạc thực tế tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý tranh chấp số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Đối với phần diện tích đất chênh lệch 424,7m² giữa diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6382m² và diện tích đất qua đo đạc thực tế 5957,3m² thì ông T1 và chị H rút yêu cầu đối với diện tích này và không yêu cầu Tòa án giải quyết
Bà H và ông T1 yêu cầu chia tài sản chung đối với các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D theo quy định của pháp luật. Bà H và ông T1 yêu cầu được nhận phần tài sản chung là phần đất thuộc thửa 276, tờ bản đồ số 28, diện tích 1.796,7m². Đối với các thửa đất 277, 278, 235 thì đề nghị Tòa án chia tài sản chung của các thành viên trong hộ gia đình và chia di sản thừa kế của cụ G1 theo yêu cầu của các bên đương sự và theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khởi kiện: Do bà H và ông T1 là thành viên trong hộ gia đình (trong sổ hộ khẩu) cụ G1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D.
Bà H và ông T1 đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ theo biên bản ngày 29/11/2022, sơ đồ bản vẽ thửa đất tranh chấp theo mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý tranh chấp số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D và kết quả định giá tài sản tranh chấp theo Biên bản định giá ngày 22/02/2023.
Theo Quyết về việc thu hồi đất của hộ cụ Nguyễn Thị G1 để thực hiện công trình xây dựng hạ lưu các cống ngang đường ĐT 744 đoạn qua địa bàn huyện D số 5046/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 và Phiếu chi số DT744/23 ngày 21/02/2023 của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện D thì cụ Nguyễn Thị G1 được nhận số tiền 191.794.400 đồng. Do cụ G1 đã chết, các con đã đứng ra nhận số tiền bồi thường 191.794.400 đồng nêu trên và đã chia đều cho 04 anh chị em trong gia đình là bà T, ông L, bà N và bà K mỗi người 47.948.600 đồng. Chị H và ông T1 không có ý kiến gì về sự việc này, không tranh chấp với số tiền trên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1 và bà H cung cấp: Đơn khởi kiện yêu cầu độc lập ngày 08/01/2023; bản sao căn cước công dân; bản sao giấy khai sinh; bản sao trích lục khai sinh.
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà G trình bày:
Bà G có mối quan hệ là vợ của ông L, là con dâu của cụ G1. Bà G cùng với ông L và ông L3 là những người đang sống trên các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D. Bà G không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này, bà G đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L, không đồng ý với yêu cầu của các nguyên đơn và của bà H, ông T1.
Chứng cứ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà G cung cấp: Bản sao căn cước công dân.
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Tấn L3 trình bày:
Ông L3 có mối quan hệ là con của ông Bùi Văn L và bà Huỳnh Thị G. Anh L3 được biết nguồn gốc của các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D có nguồn gốc do ông L cùng bà nội tên Nguyễn Thị G1 khai phá mà có. Từ khi sinh ra cho đến nay, ông L3 ở cùng với cha mẹ và bà nội tại các thửa đất trên.
Hiện nay, nguyên đơn là bà T, bà K, bà N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, chị H khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, chia di sản thừa kế đối với ông L thì ông L3 thống nhất với ý kiến trình bày của ông L và không có yêu cầu hay tranh chấp gì với các đương sự trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Chứng cứ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L3 cung cấp: Đơn yêu cầu vắng mặt; bản photo căn cước công dân.
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Trúc L2 trình bày:
Bà L2 là hàng xóm với ông L và cũng quen biết với bà T, bà K và bà N. Bà L2 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 233, tờ bản đồ số 28 tại xã T, huyện D. Ranh giới thửa đất 235 và 233 truy trên bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây và ranh đất thực tế hiện nay đang sử dụng không trùng khớp với nhau. Tuy nhiên thực tế sử dụng thì ranh giới đất rõ ràng, đúng như ranh thực tế đã được xác định tại mảnh trích lục địa chính số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D. Khi bà L2 tiến hành thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giữa bà L2 và ông L đã cùng nhau thống nhất ranh đất giữa các bên, ranh đất hiện nay không có tranh chấp và được sử dụng ổn định.
Chứng cứ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị L2 cung cấp: Đơn yêu cầu vắng mặt; bản photo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N1 trình bày:
Ông N1 là hàng xóm với ông L và cũng quen biết với bà T, bà K và bà N. Ông N1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 232, tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D với diện tích 2.320,5m². Giữa thửa đất 232 của ông N1 và thửa đất 235 do ông L đang quản lý, sử dụng được xác định ranh bởi hàng rào lưới B40 và trụ xi măng. Các bên sử dụng đúng như hiện trạng hiện nay, không có tranh chấp gì với nhau. Ông N1 không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án. Đề nghị Tòa án căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế để giải quyết.
Chứng cứ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N1 cung cấp: Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 06/10/2023.
Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, tại Công văn số 124/TNMT-TC ngày 03/4/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện D trình bày:
Giấy chứng nhận QSDĐ số vào sổ 02563 QSDĐ/QĐ-UB ngày 09/01/2004 do UBND huyện D cấp cho hộ cụ Nguyễn Thị G1 được cấp theo đúng trình tự, thủ tục được quy định tại khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001; khoản 4 Điều 1 Nghị định số 66/2001/NĐ-CP ngày 28/9/2001 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 04/2000/QĐ-CP ngày 11/02/2000 của Chính phủ; Chương III, Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cấp không tiến hành đo đạc thực tế, hồ sơ không thể hiện việc ký liên ranh của các chủ sử dụng đất liền kề.
Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lưu tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D không có sổ hộ khẩu gia đình, vì vậy Phòng T không cung cấp được thông tin thành viên trong hộ cụ Nguyễn Thị G1 tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tổng diện tích 6.382m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02563 QSDĐ/QĐ-UB ngày 09/01/2004 có chênh lệch giảm 424,7m² so với diện tích 5.957,3m² theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D. Cụ thể: thửa đất số 235 chênh lệch 286,8m², thửa đất số 277 chênh lệch 28,2m², thửa đất số 178 chênh lệch 4,4m², thửa đất 276 chênh lệch 105,3m². Nguyên nhân: Do trước đây Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02563 QSDĐ/QĐ-UB ngày 09/01/2004 được cấp theo Bản đồ địa chính năm 1999, nay đo đạc thực tế nên có sự chênh lệch diện tích như trên.
Theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D thể hiện ranh bồi thường đối với các thửa đất số 276, 277, 235. Trong đó diện tích bồi thường cửa thửa đất số 276 là 45,2m², thửa đất số 277 là 36,5m², thửa đất 235 là 80,7m².
Theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 của huyện D, tờ bản đồ số 28 tại xã T, thửa đất số 235 và thửa đất 278 được quy hoạch đất ở nông thôn và đất giao thông; thửa đất số 276 được quy hoạch đất trồng cây lâu năm và đất giao thông; thửa đất số 277 được quy hoạch đất giao thông.
Căn cứ theo quy định tại Điều 1 của Quyết định số 25/2017/QĐ-UB ngày 27/9/2017 của UBND tỉnh B về việc quy định diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương thì trường hợp tách thửa đối với phần đất thuộc thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 theo Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 1522-2022 ngày 09/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D để chia thừa kế nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của quyết định này.
Chứng cứ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện D cung cấp: Bản sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại Công văn số 950/CNVPĐKĐĐ-ĐK&CGCN ngày 14/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D thể hiện:
Căn cứ Điều 3 Quyết định số 12/2023/QĐ-UB ngày 15/5/2023 của UBND tỉnh B về việc quy định điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương thì việc tách thửa đối với phần đất có tổng diện tích 5.957,3m² tách thành 04 phần, mỗi phần có diện tích 1.498,3m² LUK, CLN thuộc các thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 không đủ điều kiện.
Việc tách thửa chia thừa kế với diện tích 372,3m² không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 3 Quyết định số 12/2023/QĐ-UB ngày 15/5/2023 của UBND tỉnh B về việc quy định điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Việc chia thừa kế các thửa đất số 235, 276, 277, 278, tờ bản đồ số 28 (chuyền quyền trọn thửa) không nằm trong phạm vi quy định đối với Quyết định số 12/2023/QĐ-UB ngày 15/5/2023 của UBND tỉnh B về việc quy định điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DSST ngày 01/8/2024, Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K đối với ông Bùi Văn L về việc tranh chấp tài sản chung và thừa kế tài sản đối với các phần đất, cụ thể: phần đất có diện tích 2823,2m² (300m² ONT, 2523,2m² CLN) thuộc thửa đất số 235; phần đất có diện tích 1796,7m² LUK thuộc thửa đất số 276; phần đất có diện tích 428,8m² LUK thuộc thửa đất số 277 và phần đất có diện tích 908,6m² LUK thuộc thửa đất số 278 cùng thuộc tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Phan Minh T1 và bà Phan Thị Ngọc H về việc tranh chấp tài sản chung đối với các phần đất, cụ thể: phần đất có diện tích 2823,2m² (300m² ONT, 2523,2m² CLN) thuộc thửa đất số 235; phần đất có diện tích 1796,7m² LUK thuộc thửa đất số 276; phần đất có diện tích 428,8m² LUK thuộc thửa đất số 277 và phần đất có diện tích 908,6m² LUK thuộc thửa đất số 278 cùng thuộc tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản tố của ông Bùi Văn L đối với bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K về việc yêu cầu tính công sức gìn giữ cải tạo với số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) đối với: phần đất có diện tích 2823,2m² (300m² ONT, 2523,2m² CLN) thuộc thửa đất số 235; phần đất có diện tích 1796,7m² LUK thuộc thửa đất số 276; phần đất có diện tích 428,8m² LUK thuộc thửa đất số 277 và phần đất có diện tích 908,6m² LUK thuộc thửa đất số 278 cùng thuộc tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K đối với ông Bùi Văn L về việc tranh chấp phần đất có tổng diện tích 424,7m², là phần chênh lệch giữa diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6382m² và diện tích đất qua đo đạc thực tế 5957,3m².
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phan Minh T1 và bà Phan Thị Ngọc H về việc tranh chấp phần đất có tổng diện tích 424,7m², là phần chênh lệch giữa diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 6382m² và diện tích đất qua đo đạc thực tế 5957,3m².
- Chia tài sản chung và chia thừa kế tài sản đối với: phần đất có diện tích 2823,2m² (300m² ONT, 2523,2m² CLN) thuộc thửa đất số 235; phần đất có diện tích 1796,7m² LUK thuộc thửa đất số 276; phần đất có diện tích 428,8m² LUK thuộc thửa đất số 277 và phần đất có diện tích 908,6m² LUK thuộc thửa đất số 278 cùng thuộc tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương cụ thể như sau:
- Giao cho ông Bùi Văn L được quyền quản lý, sử dụng đối với phần đất và tài sản trên đất có diện tích 2823,2m² (300m² ONT; 2523,2m² CLN; 287,2m² CLN thuộc HLATĐB) thuộc thửa đất số 235, tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Phần đất có tứ cận như sau: Phía bắc giáp mương nước, phía nam giáp đường đất, phía tây giáp thửa 277 và 278, phía đông giáp thửa 232 và 233.
Tài sản trên đất:
01 căn nhà cấp 4 (nhà tình nghĩa) được xây dựng năm 1996 có diện tích 40m², kết cấu: tường xây tô, mái lợp tôn, nền lót gạch men, la phông bằng tôn (được ký hiệu D trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
01 căn nhà được xây dựng năm 2004 có diện tích 41,2m², kết cấu: tường xây tô, mái lợp tôn, nền lót gạch men, không có la phong (được ký hiệu C trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
01 phần mái che tôn được xây dựng năm 2009 có diện tích 186,6m², kết cấu: mái lợp tôn, cột bê tông và cây xà gồ bằng sắt, nền lót gạch tàu (được ký hiệu E trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
01 nhà vệ sinh được xây dựng năm 2009, diện tích 06m², kết cấu: tường xây tô, nền lót gạch men, mái tôn.
11 (mười một) cây dừa, 14 (mười bốn) cây dâu trồng năm 2002, 02 (hai) cây măng cụt trồng năm 2010, 01 cây vạn tuế, 02 (hai) cây sầu riêng trồng năm 2008, 02 (hai) cây sầu riêng trồng năm 2011, 04 (bốn) cây mít trồng năm 2018, 14 (mười bốn) cây măng cụt trồng năm 2019, 02 (hai) cây xoài trồng năm 2010, 04 (bốn) cây chôm chôm trồng năm 2002.
- Giao cho ông Bùi Văn L được quyền quản lý, sử dụng đối với phần đất có diện tích 1796,7m² LUK (171,2m² LUK thuộc HLATĐB) thuộc thửa đất số 276 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Phần đất có tứ cận như sau: phía bắc giáp mương nước, phía nam giáp đường đất, phía tây giáp thửa 288, phía đông giáp thửa 277 và 278.
Tài sản trên đất:
có 80 cây cao su được trồng năm 2008.
- Giao cho ông Bùi Văn L được quyền quản lý, sử dụng đối với phần đất có diện tích 428,8m² LUK thuộc thửa đất số 277 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Phần đất có tứ cận như sau: phía bắc giáp mương nước, phía nam giáp thửa đất 278, phía tây giáp thửa 276, phía đông giáp thửa 235.
Tài sản trên đất:
có 18 cây cao su được trồng năm 2008.
- Giao cho ông Bùi Văn L được quyền quản lý, sử dụng đối với phần đất có diện tích 908,6m² LUK (146,6m² thuộc HLATĐB) thuộc thửa đất số 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Phần đất có tứ cận như sau: phía bắc giáp thửa đất 277, phía nam giáp đường đất, phía tây giáp thửa 276, phía đông giáp thửa 235.
Tài sản trên đất:
có 42 cây cao su được trồng năm 2008.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Ông Bùi Văn L có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo nội dung quyết định của Bản án này theo quy định của pháp luật.
- Ông Bùi Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị phần tài sản chung và thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Thị G1 cho bà Bùi Thị T với số tiền 619.662.500 đồng (sáu trăm mười chín triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).
- Ông Bùi Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị phần tài sản chung và thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Thị G1 cho bà Bùi Thị N với số tiền 619.662.500 đồng (sáu trăm mười chín triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).
- Ông Bùi Văn L có nghĩa vụ thanh toán giá trị phần tài sản chung và thừa kế tài sản của cụ Nguyễn Thị G1 cho bà Bùi Thị K với số tiền 619.662.500 đồng (sáu trăm mười chín triệu sáu trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).
- Giao cho ông Bùi Văn L được quyền quản lý, sử dụng đối với phần đất và tài sản trên đất có diện tích 2823,2m² (300m² ONT; 2523,2m² CLN; 287,2m² CLN thuộc HLATĐB) thuộc thửa đất số 235, tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Phần đất có tứ cận như sau: Phía bắc giáp mương nước, phía nam giáp đường đất, phía tây giáp thửa 277 và 278, phía đông giáp thửa 232 và 233.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm trả và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Minh T1, bà Phan Thị Ngọc H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Xác định quyền sử dụng theo đo đạc thực tế là 5.957,3m² thuộc thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02563 QSDĐ/QĐ-UB ngày 09/01/2004 được UBND huyện D cấp cho hộ bà Nguyễn Thị G1 là tài sản chung của cụ Nguyễn Thị G1, ông Bùi Văn L, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T.
Cụ Nguyễn Thị G1 chết không để lại di chúc, phần di sản của cụ G1 trong khối tài sản chung trên được chia đều cho các thừa kế của cụ G1 gồm ông Bùi Văn L, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T.
Các đương sự thống nhất phân chia tài sản chung và thừa kế như sau:
- Trích 20% công sức cho ông Bùi Văn L tổng diện tích là 1.191,46m² thuộc thửa 235.
- Phần còn lại chia đều cho 04 thừa kế gồm ông Bùi Văn L, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T. Mỗi kỷ phần nhận được nhận phần đất có diện tích 1.101,46m².
- Bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T thống nhất gọp chung kỷ phần được hưởng để đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 3.531,9m², trong đó: thửa 276 có diện tích 1.796,7m², thửa 278 có diện tích 908,6m², thửa 277 có diện tích 428,8m² và một phần thửa 235 có diện tích 397,8m². Đối với 80 cây cao su trồng năm 2008 có trên thửa 276; 18 cây cao su trồng năm 2008 có trên thửa 277 và 42 cây cao su có trên thửa 278, ông Bùi Văn L có nghĩa vụ thanh lý các cây trồng trên đất. Đối với cây trồng còn lại nếu có trên diện tích 397,8m² thuộc một phần thửa 235 thì bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T được quyền sở hữu mà không phải thanh toán giá trị.
- Ông Bùi Văn L được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 2.425,4m² (trong đó có 300 đất ONT) thuộc thửa 235 cùng toàn bộ tài sản trên đất.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Các đương sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án đối với phần kháng cáo, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái quy định pháp luật, căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Phần đương sự không kháng cáo đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Trúc L2, bà Huỳnh Thị G, ông Nguyễn Văn N1, ông Bùi Tuấn L4, UBND huyện D đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đo, Hội đồng xét xử tiến hành xét xừ vắng mặt các đương sự có tên trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét, thỏa thuận của các bên tại phiên tòa là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét sửa bản án sơ thẩm, công nhận thỏa thuận của các đương sự.
Diện tích các đương sự thống nhất phân chia đảm bảo điều kiện theo quy định tại Quyết định số 38/2024/QĐ-UBND ngày 18/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh B quy định điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Minh T1, bà Phan Thị Ngọc H là có căn cứ chấp nhận.
- Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
- Chi phí tố tụng: đương sự phải chịu theo quy định.
- Án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự phải theo quy định tại Điều 147, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bà T, bà N, ông L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: người kháng cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 293, Điều 296, Điều 300 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Các Điều 209, 210, 216, 219, 609, 611, 612, 613, 614, 616, 623, 649, 650, 651, 652, 660 của Bộ luật Dân sự;
- Các Điều 100, 166, 167, 203 Luật Đất đai năm 2013
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Minh T1, bà Phan Thị Ngọc H.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Xác định quyền sử dụng theo đo đạc thực tế là 5.957,3m² thuộc thửa đất số 235, 276, 277, 278 tờ bản đồ số 28 tại ấp R, xã T, huyện D theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02563 QSDĐ/QĐ-UB ngày 09/01/2004 được UBND huyện D cấp cho hộ bà Nguyễn Thị G1 là tài sản chung của cụ Nguyễn Thị G1, ông Bùi Văn L, bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T.
- Bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 3.531,9m², trong đó thửa 276 có diện tích 1,796,7m², thửa 278 có diện tích 908,6m², thửa 277 có diện tích 428,8m² và 01 phần thửa 235 có diện tích 397,8m².
Về tài sản trên đất:
- Đối với 80 cây cao su trồng năm 2008 có trên thửa 276; 18 cây cao su trồng năm 2008 có trên thửa 277 và 42 cây cao su có trên thửa 278, ông Bùi Văn L có nghĩa vụ thanh lý các cây trồng trên đất. Trường hợp ông Bùi Văn L không tự thanh lý thì sẽ bị cưỡng chế, nếu có thiệt hại xảy ra ông L phải tự chịu theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
- Đối với cây trồng còn lại nếu có trên diện tích 397,8m² thuộc một phần thửa đất số 235 thì bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị K, bà Bùi Thị T được quyền sở hữu mà không phải thanh toán giá trị cho ông Bùi Văn L.
(ký hiệu A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo)
- Ông Bùi Văn L được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 2.425,4m² (trong đó có 300 đất ONT) thuộc thửa 235 cùng toàn bộ tài sản trên đất.
(ký hiệu B trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Kiến nghị UBND huyện D thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 02563 QSDĐ/QĐ-UB ngày 09/01/2004 được UBND huyện D cấp cho hộ bà Nguyễn Thị G1 để cấp lại cho các đương sự theo nội dung quyết định mà các đương sự đã thỏa thuận.
Các đương sự liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Án phí sơ thẩm:
Bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N và ông Bùi Văn L là người cao tuổi nên được miễn án phí. Hoàn trả cho bà Bùi Thị N số tiền 625.000 đồng (sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0007650 ngày 30/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Bà Bùi Thị K phải chịu số tiền 27.544.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm bốn mươi bốn ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 3.125.000 đồng (ba triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0007649 ngày 30/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, bà K còn phải nộp số tiền 24.419.000 đồng (hai mươi bốn triệu bốn trăm mười chín nghìn đồng).
- Về chi phí tố tụng:
Các nguyên đơn bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N và bà Bùi Thị K phải chịu số tiền 2.752.415 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm mười lăm đồng), được khấu trừ vào tạm ứng đã nộp (đã nộp xong)
Bị đơn ông Bùi Văn L phải nộp số tiền 2.752.415 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm mười lăm đồng) để trả lại cho bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị N và bà Bùi Thị K.
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Bùi Thị N, bà Bùi Thị T được miễn nộp án phí.
Bà Bùi Thị K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000375 ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Ông Phan Minh T1 và bà Phan Thị Ngọc H mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000374 và Biên lai thu số 0000373 cùng ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |
Bản án số 98/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về tài sản chung và thừa kế tài sản
- Số bản án: 98/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về tài sản chung và thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
