Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 98/2025/DS-PT

Ngày: 25-02-2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất;

yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
  • Các Thẩm phán:
    • Bà Phạm Thị Duyên
    • Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 691/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 390/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 403/2025/QĐPT ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Bùi Trường C, sinh năm 1974; Nơi cư trú: C T, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Trần Ngọc V, sinh năm 1952; Nơi cư trú: A Ấp A, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1997; Nơi cư trú: A T, Thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền số 002536 ngày 09/9/2022 tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Phương L, sinh năm 1983.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Trường C, sinh năm 1974; Nơi cư trú: C T, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng ủy quyền số 371 ngày 22/02/2023 tại Văn phòng C3, tỉnh Long An).

  1. Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1988 (Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B); Địa chỉ: C T, Thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Công văn số 716/UBND ngày 09/3/2023).

  1. Bà Trần Thị Kim U, sinh năm 1982.
  2. Bà Trần Thị Kim N, sinh năm 1975.
  3. Bà Trần Thị Kim Q, sinh năm 1989.
  4. Ông Trần Ngọc H1, sinh năm 1984.
  5. Ông Trần Ngọc Q1, sinh năm 1979.
  6. Bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1977.
  7. Bà Phan Lệ H2, sinh năm 1983.
  8. Trẻ Lâm Hoàng Thiên Â, sinh năm 2006.
  9. Trẻ Lâm Hoàng Thiên T1, sinh năm 2008.
  10. Trẻ Đinh Thế P, sinh năm 2012.
  11. Trẻ Đinh Phú C1, sinh năm 2015.
  12. Trẻ Trần Mạnh H3, sinh năm 2012.

Cùng trú tại: A, Tổ D, Ấp A, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của các ông (bà) Trần Thị Kim U, Trần Thị Kim N, Trần Thị Kim Q, Trần Ngọc H1, Trần Ngọc Q1, Trần Thị Kim O, Phan Lệ H2: Bà Huỳnh Thị Ngọc H, sinh năm 1994 (Giấy ủy quyền số 001935 ngày 24/4/2024 tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Người kháng cáo: bị đơn ông Trần Ngọc V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn ông Bùi Trường C trình bày: Năm 2012, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH01645 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 05/01/2012, diện tích 662,2m² (diện tích bị giảm 87,8m²). Phần đất của ông Trần Ngọc V có diện tích 1.349,7m² theo giấy chứng nhận số CH03075 ngày 25/11/2013 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp, có 02 cạnh liền kề với đất của ông C.

Ông V tự tháo dỡ hàng rào cũ bằng lưới B40 và xây dựng công trình tường rào bê tông cốt thép, không có giấy phép xây dựng, theo quy định phải có, cũng không thông báo cho ông C là người có bất động sản liền kề để đảm bảo ranh đất của hai bên, nên đã lấn diện tích 58m² sang phần đất của ông C, thuộc thửa đất số 65, tờ bản đồ số 01, nhiều lần đã yêu cầu ông V tháo dỡ nhưng ông không thực hiện.

Ngày 09/11/2020, ông C có yêu cầu Công ty TNHH T2 đo vẽ và nhận thấy bị thiếu so với hiện trạng theo giấy chứng nhận số CH01645 do Ủy ban huyện B cấp ngày 05/01/2012 được cấp cho ông C. Do đó, ông C đã nộp đơn yêu cầu Ủy ban xã L hòa giải tranh chấp giữa ông với ông V. Ngày 15/01/2021, Ủy ban xã L lập biên bản hòa giải không thành do các bên không thỏa thuận được.

Nay ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Ngọc V tháo dỡ công trình xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm và trả lại phần đất diện tích 58m², thuộc một phần thửa 65, tờ bản đồ số 01, theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh lập ngày 20/6/2022 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Ngoài ra, ông C yêu cầu Tòa án xem xét các chi phí tố tụng đã tạm ứng gồm chi phí đo vẽ là 11.033.172 đồng, chi phí thẩm định giá là 20.000.000 đồng.

* Bị đơn ông Trần Ngọc V có người đại diện theo ủy quyền là bà Huỳnh Thị Ngọc H trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Trường C, lý do: Phần đất này thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông V, có nguồn gốc sử dụng từ cha ông V là ông Trần Ngọc V1 khai phá từ năm 1968 để lại. Sau này, ông V1 chia đều cho các con là ông V và ông Trần Kim Đ (anh trai ông V) quản lý, sử dụng ổn định từ đó đến nay và không tranh chấp. Ông V là người trực tiếp đăng ký kê khai sử dụng từ trước đến nay. Ngoài ra, ngày 19/7/1999 bà H4 (mẹ ông C) cũng đã ký giấy thỏa thuận xác định ranh giới nhà đất, theo đó ranh giới giữa ông V và bà H4 có cột mốc, hàng rào để xác định vị trí. Hiện nay hàng rào này vẫn còn theo đúng vị trí ranh giới được xác định năm 1999, ông V chỉ xây lại tường rào kiên cố dựa trên hàng rào cũ và có tiến hành xin phép xây dựng theo quy định. Thời điểm ông C được cấp giấy chứng nhận đã không tiến hành đo vẽ hiện trạng thực tế đất nên mới cấp nhầm phần đất của ông V cho ông C.

Ngoài ra, ông V có yêu cầu phản tố: Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH01645 do Ủy ban huyện B cấp ngày 05/01/2012 cho ông Bùi Trường C, bà Trần Phương L; Công nhận cho ông V quyền sử dụng đất diện tích đất 58m², thuộc một phần thửa 65, tờ bản đồ 01, xã L, huyện B, thuộc vị trí (31) và (32) theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh ngày 20/6/2022 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Phương L (có người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Trường C) trình bày: Thống nhất với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Trường C, buộc ông Trần Ngọc V tháo dỡ công trình xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm và trả lại phần đất diện tích 58m², thuộc một phần thửa 65, tờ bản đồ số 01 (TL BĐĐC).

- Các ông (bà) Trần Thị Kim N, Trần Thị Kim O, Trần Ngọc H1, Trần Thị Kim Q, Trần Ngọc Q1, Trần Thị Kim U, trẻ Lâm Hoàng Thiên Á, trẻ Lâm Hoàng Thiên T1, Phan Lệ H2, trẻ Trần Mạnh H3, trẻ Đinh Thế P, trẻ Đinh Phú C1 (cùng người đại diện theo ủy quyền là bà Huỳnh Thị Ngọc H) trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thống nhất với yêu cầu phản tố của bị đơn.

- Ủy ban nhân dân huyện B có ý kiến tại bản tự khai ngày 27/3/2023: Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH875805, số vào sổ cấp GCN: CH01645 ngày 05/01/2012 cho ông Bùi Trường C và bà Trần Phương L với diện tích là 662,2m² trọn thửa 65 tờ bản đồ số 1, theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 04T-585/ÐÐBÐ-2011 của Công ty TNHH T3 lập ngày 26/9/2011 đã kiểm tra nội nghiệp ngày 10/10/2011 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 16 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ và Luật đất đai năm 2003.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 390/2024/DS-ST ngày 28/6/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37; Điều 189, khoản 4 Điều 91; Điều 197, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 147; Điều 273; Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/BTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Trường C.

Buộc Hộ ông Trần Ngọc V phải trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm 58m², thuộc thửa 65 tờ bản đồ số 1 (BĐĐC), xã L, huyện B, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH875805, số vào sổ cấp GCN: CH01645 do Ủy ban huyện B cấp ngày 05/01/2012 cho ông Bùi Trường C, bà Trần Phương L.

Buộc Hộ ông Trần Ngọc V phải tháo dỡ toàn bộ hàng rào bê tông cốt thép hình chữ L dài tổng cộng 46,91 mét, và 08 cột bê tông cốt thép cao 04 mét do ông V tự xây dựng lấn chiếm tại vị trí số (31) và (32) (theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số 130722/TTĐĐBĐ-VPTT của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 20/6/2022).

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố về việc công nhận 58m² đất tranh chấp, thuộc thửa 65, tờ bản đồ số 1, xã L, huyện B cho bị đơn Trần Ngọc V tại vị trí số (31) và (32) (theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số 130722/TTĐĐBĐ-VPTT của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 20/6/2022) và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH875805, số vào sổ cấp GCN: CH01645 ngày 05/01/2012.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định

- Ngày 09/07/2024, bị đơn ông Trần Ngọc V kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 390/2024/DS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện hợp pháp của bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; cho rằng trình thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn không chính xác về hình thửa, diện tích nên đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo bị đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của mình. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt đều đã được tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần; Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc V, thấy rằng:

[2.1]. Phần đất các bên tranh chấp có diện tích 58m², thuộc một phần thửa 65, tờ bản đồ số 01, theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh lập ngày 20/6/2022 của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Phía nguyên đơn cho rằng bị đơn ông Trần Ngọc V lấn chiếm xây tường rào nên yêu cầu buộc tháo dỡ trả lại đất; còn bị đơn cho rằng phần đất trên thuộc quản lý, sử dụng của gia đình khai phá từ năm 1968. Nên không đồng ý theo nội dung khởi kiện nguyên đơn, đồng thời có yêu cầu hủy giấy CNQSD đất đã cấp cho nguyên đơn.

[2.2]. Xét về nguồn gốc và hồ sơ pháp lý của phần đất tranh chấp:

  • - Tại Tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (cấp Giấy chứng nhận lần đầu) số 1803/TTr-TNMT ngày 29/12/2012 của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B xác định diện tích đất 662,2m² trọn thửa 65 tờ bản đồ số 1 (tài liệu BĐĐC), có nguồn gốc là đất cấp theo diện kinh tế mới vào năm 1976 cho ông Trần Kim Đ, ngày 16/10/1991 ông Đ chuyển nhượng lại cho bà Trần Thị H4, ngày 01/3/2004 bà H4 cho lại con là ông Bùi Trường C sử dụng ổn định và không tranh chấp.
  • - Ngày 05/01/2012 Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH875805, số vào sổ cấp GCN: CH01645 với diện tích là 662,2m² trọn thửa 65 tờ bản đồ số 1, theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 04T-585/ĐĐBĐ-2011 của Công ty TNHH T3 lập ngày 26/9/2011 đã kiểm tra nội nghiệp ngày 10/10/2011 là đúng trình tự, thủ tục.
  • - Ngày 25/11/2013 Ủy ban nhân dân huyện B cũng đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình bị đơn ông V, số vào sổ cấp GCN: CH03075 với diện tích là 1.349,7m² thuộc thửa 779 tờ bản đồ số 1, theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 1356-LMX/VPĐK của Công ty TNHH Đ1 đã kiểm tra nội nghiệp ngày 23/7/2013 là đúng trình tự, thủ tục.

Như vậy, cả phía nguyên, bị đơn đều đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất. Trong đó, nguyên đơn được cấp GCN QSD đất trước, còn bị đơn được cấp sau.

- Theo bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số 130722/TTĐĐBĐ-VPTT của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 20/6/2022, đã xác định phần tường rào bê tông cốt thép phía bị đơn xây dựng hình chữ L dài tổng cộng 46,91 mét đều nằm trọn trong phần đất của ông C và bà L sử dụng và đã được cấp giấy chứng nhận.

- Tại công văn số 6931/UBND ngày 08/9/2023 của Ủy ban nhân dân xã L xác nhận: việc ông V xây dựng hàng rào là do tự xây, không thông báo cho Ủy ban nhân dân xã được biết.

[3]. Từ những phân tích chứng cứ nêu trên thấy rằng, việc phía bị đơn ông V tháo dỡ hàng rào cũ và xây dựng mới hàng rào bê tông cốt thép đã không thông báo cho chủ sở hữu, sử dụng bất động sản liền kề và Chính quyền địa phương biết; đồng thời việc tự xây dựng trên đã lấn chiếm vào phần đất của nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 58m². Do đó, Tòa sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải tháo dỡ toàn bộ hàng rào bê tông cốt thép đã xây dựng trên phần đất để trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, không chấp nhận yêu cầu phản tố: hủy giấy chứng nhận QSD đất của nguyên đơn và công nhận 58m² cho bị đơn là phù hợp.

Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn ông Trần Ngọc V là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 26/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Ngọc V. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 390/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Trường C.

Buộc Hộ ông Trần Ngọc V phải trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm 58m², thuộc thửa 65 tờ bản đồ số 1 (BĐĐC), xã L, huyện B, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH875805, số vào sổ cấp GCN: CH01645 do Ủy ban huyện B cấp ngày 05/01/2012 cho ông Bùi Trường C, bà Trần Phương L.

Buộc Hộ ông Trần Ngọc V phải tháo dỡ toàn bộ hàng rào bê tông cốt thép hình chữ L dài tổng cộng 46,91 mét, và 08 cột bê tông cốt thép cao 04 mét do ông V tự xây dựng lấn chiếm tại vị trí số (31) và (32) (theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số 130722/TTĐĐBĐ-VPTT của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 20/6/2022).

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố về việc công nhận 58m² đất tranh chấp, thuộc thửa 65, tờ bản đồ số 1, xã L, huyện B cho bị đơn Trần Ngọc V tại vị trí số (31) và (32) (theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh số 130722/TTĐĐBĐ-VPTT của Trung tâm Đo đạc Bản đồ thuộc Sở tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 20/6/2022) và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BH875805, số vào sổ cấp GCN: CH01645 ngày 05/01/2012.
  1. Về chi phí tố tụng, án phí:
  • - Ông Trần Ngọc V là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ, phúc thẩm.
  • - Buộc ông Trần Ngọc V phải trả lại chi phí tố tụng cho nguyên đơn ông Bùi Trường C tổng cộng là: 31.033.172 (Ba mươi mốt triệu không trăm ba mươi ba nghìn một trăm bảy mươi hai) đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Hoàn tiền tạm ứng án phí 500.000 đồng cho nguyên đơn ông Bùi Trường C theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số: AA/2021/0040236 ngày 29/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP . HCM;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP. HCM;
  • - Đương sự (5);
  • - Lưu VP(3), HS.(15)

Thẩm phán – Chủ tọa

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

  • Số bản án: 98/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do Bản án dân sự sơ thẩm số 390/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger