Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 98/2025/DS-ST

Ngày: 21/02/2025

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Minh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hà Nguyễn Minh Nam

2/ Bà Lê Thị Thanh Dung

- Thư ký Toà án phiên tòa: bà Võ Mai Như Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 và 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 516/2024/TLST-DS ngày 14/5/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 02/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-DS ngày 20/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N

Địa chỉ: A T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Minh T (Theo Giấy ủy quyền số 643/UQ-SGN-HCNS ngày 18/3/2024). (có mặt)

- Bị đơn: Bà Nguyễn Bạch V, sinh năm: 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ: E Đường C, Phường H, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024 của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N và các bản tự khai của ông Phạm Minh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Nguyễn Bạch V và Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh S (sau đây gọi tắt là “Ngân hàng”) ký Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020, số tiền cho vay: 14.500.000.000 đồng, mục đích: thanh toán tiền mua Thửa đất số 560, tờ bản đồ số 28 (TL-BĐĐC 2003), phường L, Quận I (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh), thời hạn vay là 240 tháng.

Để đảm bảo cho các khoản vay vốn tại Ngân hàng, bà V đã thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu và sử dụng của bà là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 560, tờ bản đồ số 28 (TL-BĐĐC 2003), phường L, Quận I (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, trị giá 21.285.000.000 đồng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0139/SGN.NVT/TC20 ký giữa Ngân hàng và bà V đã được cơ quan Công chứng chứng nhận ngày 07/7/2020, số công chứng: 011784. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định.

Trong quá trình thực hiện vay vốn, bà V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020 nên Ngân hàng đã chuyển khoản nợ vay của bà V sang nợ quá hạn từ ngày 22/11/2022. Tổng dư nợ vay quá hạn của bà V tính đến hết ngày 18/02/2025 là 16.242.550.434 đồng, trong đó:

  • Nợ gốc: 12.799.668.994 đồng;
  • Nợ lãi: 3.442.881.440 đồng, gồm lãi trong hạn: 3.340.159.646 đồng và lãi phạt quá hạn: 102.721.794 đồng.

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và có công văn Thông báo nhắc nợ và Biên bản làm việc về việc yêu cầu thanh toán nợ đầy đủ, đúng hạn và thông báo xử lý tài sản. Tuy nhiên đến nay, bà Nguyễn Bạch V vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi quá hạn cho Ngân hàng, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

  1. Buộc bà Nguyễn Bạch V phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến hết ngày 18/02/2025 là 16.242.550.434 (mười sáu tỷ hai trăm bốn mươi hai triệu năm trăm năm mươi ngàn bốn trăm ba mươi bốn) đồng, trong đó:
    • Nợ gốc: 12.799.668.994 đồng;
    • Nợ lãi: 3.442.881.440 đồng, gồm lãi trong hạn: 3.340.159.646 đồng và lãi phạt quá hạn: 102.721.794 đồng.
  2. Buộc bà Nguyễn Bạch V phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 19/02/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
  3. Trường hợp bà Nguyễn Bạch V không trả hoặc trả không đủ số tiền nêu trên ngay khi Bản án có hiệu lực thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 560, tờ bản đồ số 28 (TL-BĐĐC 2003), phường L, Quận I (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0139/SGN/NVT/TC20 ngày 07/7/2020 đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập cho bà Nguyễn Bạch V để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà V đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải đầy đủ các bên đương sự được.

Tại phiên tòa;

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Bạch V thanh toán số nợ tính đến hết ngày 18/02/2025 là 16.242.550.434 (mười sáu tỷ hai trăm bốn mươi hai triệu năm trăm năm mươi ngàn bốn trăm ba mươi bốn) đồng, trong đó: nợ gốc: 12.799.668.994 đồng, nợ lãi: 3.442.881.440 đồng. Bà Nguyễn Bạch V còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 19/02/2025 cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ vay theo lãi suất quy định tại các Hợp đồng đã ký. Thanh toán làm một lần ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trường hợp bị đơn không thanh toán được hoặc thanh toán không đủ số nợ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết nợ, bà V phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền còn thiếu cho đến khi thanh toán đầy đủ.

Bị đơn, bà Nguyễn Bạch V vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và không có thêm ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận tuân theo đúng pháp luật tố tụng về việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thu thập chứng cứ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành theo đúng trình tự tố tụng, các đương sự chấp hành tốt quy định pháp luật về tố tụng.. Tuy nhiên, để thực hiện các thủ tục tống đạt đầy đủ đối với bị đơn bà V, do phía nguyên đơn có khai thông tin bị đơn hiện đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H truy tìm, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã có công văn xác minh nhưng chưa được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H phản hồi, ngoài ra cần xác minh tình trạng hôn nhân của bà V để xác định nghĩa vụ thanh toán nợ, Kiểm sát viên đề xuất tạm ngừng phiên tòa. Về nội dung, Kiểm sát viên không có ý kiến phát biểu đối với yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Bạch V thanh toán tiền nợ theo Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020. Xét đây là tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng cấp tín dụng giữa Ngân hàng với khách hàng là cá nhân, là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh S – Phòng giao dịch Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Bạch V cùng ký kết và thực hiện hợp đồng tại Phòng G có địa chỉ tại số F N, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định: “Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết” do đó việc Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận – là Tòa án nơi thực hiện Hợp đồng để khởi kiện tranh chấp hợp đồng là phù hợp với quy định pháp luật.

[1.3] Về thủ tục tố tụng và sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Minh T có mặt; bị đơn bà Nguyễn Bạch V dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thể hiện bà Nguyễn Bạch V có đăng ký thường trú tại địa chỉ E Đường C, Phường H, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện đi đâu không rõ. Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại địa chỉ trên đối với đương sự, tuy nhiên bà V vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày bất kỳ ý kiến gì liên quan đến quyền, lợi ích của mình trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tạm ngừng phiên tòa để xác minh thông tin kết quả truy tìm nguyên đơn của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H truy tìm, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã có công văn xác minh nhưng chưa phản hồi, tuy nhiên điều tra viên đã cung cấp Quyết định truy nã số 301/QĐTN-CSKT-Đ5 ngày 07/01/-2025 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H đối với bị đơn bà Nguyễn Bạch V. Ngoài ra, Quyết định truy nã nêu trên được công bố công khai trên website chính thức của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ C tại địa chỉ https://vpcqcsdt.bocongan.gov.vn/Truy-n%C3%A3-TP/. Quyết định truy nã nêu trên thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ngoài ra, đối với yêu cầu xác minh tình trạng hôn nhân của bị đơn bà V để xác định nghĩa vụ thanh toán nợ, Hội đồng xét xử xét thấy: Văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ chồng được lập ngày 07/7/2020 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh giữa ông Vũ Duy H và bà Nguyễn Bạch V có thỏa thuận: “Bà Nguyễn Bạch V là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BA 330575, số vào sổ cấp GCN: CH00134 do U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/03/2010, đăng ký biến động ngày 30/06/2020 đối với thửa đất số 560, tờ bản đồ số 28 (TL BĐĐC 2003) tại Phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng văn bản này ông Vũ Duy H xác nhận toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 560, tờ bản đồ số 28 (TL BĐĐC 2003) tại Phường L, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Nguyễn Bạch V đứng tên nêu trên là tài sản riêng của bà Nguyễn Bạch V; Ông Vũ Duy H không có bất cứ sự đóng góp nào đối với việc tạo lập nên tài sản này.” (BL39). Ngoài ra ông H còn lập Giấy xác nhận tài sản riêng vào ngày 05/02/2020, có nội dung: “Tôi có vợ là bà Nguyễn Bạch V, sinh năm 1968, căn cước công dân số [...], cùng thường trú tại: E đường C, phường H, TP V, tỉnh BRVT. Vợ tôi (bà Nguyễn Bạch V) hiện đang làm thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa 560, tờ bản đồ số 28 (TL BĐĐC năm 2003), phường L, quận I, thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00134 ngày 17/3/2010 do UBND quận U cấp; đăng ký thay đổi ngày 21/9/2010 và 10/8/2018. Nay bằng giấy này tôi xác nhận rằng tôi không đóng góp tiền của hay công sức gì trong việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Do vậy, quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên là tài sản riêng của bà Nguyễn Bạch V.” Giấy xác nhận tài sản riêng được lập trước thời điểm ký kết Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020, bà V tự mình vay vốn và thế chấp tài sản riêng của mình để đảm bảo cho khoản vay, do vậy, việc bà V có còn quan hệ hôn nhân với ông H hay không cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết tài sản thế chấp nên không cần thiết xác minh tình trạng hôn nhân. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của đại diện Viện kiểm sát về việc tạm ngừng phiên tòa để xác minh, thu thập thêm chứng cứ như trên.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Bị đơn dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không gửi văn bản trình bày bất kỳ ý kiến gì liên quan đến quyền, lợi ích của mình trong vụ án này, là đã từ chối quyền trình bày ý kiến về quyền, lợi ích hợp pháp của mình đối với tranh chấp. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo những chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Đối với số nợ gốc: Căn cứ lời trình bày của đại diện nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020, theo đó nguyên đơn đã cho bị đơn vay vốn với số tiền vay là 14.500.000.000 (mười bốn tỷ năm trăm triệu) đồng, dư nợ gốc còn lại hiện nay là 12.799.668.994 (mười hai tỷ bảy trăm chín mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi tám ngàn chín trăm chín mươi bốn) đồng. Mối quan hệ tín dụng giữa các bên là hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi suất và có tài sản bảo đảm, sự thỏa thuận của các bên tại hợp đồng cho vay là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Nội dung Hợp đồng cho vay giữa hai bên là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, nên có hiệu lực pháp luật. Đối chiếu số tiền nợ gốc đã giải ngân và số tiền nợ gốc bị đơn đã trả, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc nêu trên là có căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

[2.2] Về số tiền nợ lãi: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ lãi của Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020 tính đến hết ngày 18/02/2025 là: 3.340.159.646 đồng và nợ lãi phạt quá hạn là 102.721.794 đồng. Từ ngày 22/11/2022, bà Nguyễn Bạch V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do vậy nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản nợ của bị đơn sang nợ quá hạn (thời điểm chuyển nợ quá hạn cụ thể căn cứ theo từng Giấy nhận nợ). Tại điều 6 của Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020, lãi suất cho vay được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng Giấy nhận nợ; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn cho đến khi trả hết dư nợ gốc quá hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 0%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020 phù hợp với quy định tại Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về số tiền nợ lãi nêu trên.

[2.3] Về yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 19/02/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Bạch V thanh toán số nợ tính đến hết ngày 18/02/2025 là 16.242.550.434 (mười sáu tỷ hai trăm bốn mươi hai triệu năm trăm năm mươi ngàn bốn trăm ba mươi bốn) đồng, trong đó: Nợ gốc: 12.799.668.994 đồng, nợ lãi: 3.442.881.440 đồng và các khoản lãi phát sinh từ ngày 19/02/2025 theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký cho đến khi bị đơn thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[2.4] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần số nợ trên. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ ngày 22/11/2022 bị đơn đã không tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn như thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký, việc này làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán ngay một lần khoản nợ trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[2.5] Về yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phát mãi tài thế chấp và yêu cầu trong trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp của bà Nguyễn Bạch V mà không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì bị đơn bà V phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0139/SGN.NVT/TC20 ngày 07/7/2020 được lập tại Văn phòng C1 theo số công chứng 011784, quyển số 07/2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/7/2020, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Chi nhánh Văn phòng Đ (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 560, tờ bản đồ số 28 (TL-BĐĐC 2003), phường L, Quận I (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 330575 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là Thành phố T) cấp ngày 17/3/2010, số vào sổ cấp GCN: CH 00134. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0139/SGN.NVT/TC20 ngày 07/7/2020 có nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 293, 294, 295 và 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật. Do bị đơn bà Nguyễn Bạch V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với nguyên đơn, căn cứ Điều 299 và 323 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu của nguyên đơn về việc được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, và trong trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp của bà V mà vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ, thì bà V phải tiếp tục trả nợ cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho nguyên đơn là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ các nhận định ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP N được Tòa án chấp nhận. H1 lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Bị đơn bà Nguyễn Bạch V phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền trên, nên căn cứ Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40, khoản 4 Điều 91, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 293, Điều 294, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 320, Điều 322, Điều 323, Điều 324 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N:
    1. Buộc bà Nguyễn Bạch V có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền tính đến hết ngày 18/02/2025 là 16.242.550.434 (mười sáu tỷ hai trăm bốn mươi hai triệu năm trăm năm mươi ngàn bốn trăm ba mươi bốn) đồng, trong đó: Nợ gốc: 12.799.668.994 (mười hai tỷ bảy trăm chín mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi tám ngàn chín trăm chín mươi bốn) đồng, nợ lãi: 3.442.881.440 (ba tỷ bốn trăm bốn mươi hai triệu tám trăm tám mươi mốt ngàn bốn trăm bốn mươi) đồng. Thi hành một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    2. Kể từ ngày 19/02/2025 cho đến khi thi hành án xong, bị đơn bà Nguyễn Bạch V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 0139/SGN.NVT/CD20 ngày 17/6/2020 giữa Ngân hàng TMCP N và bà Nguyễn Bạch V.
    3. Ngay sau khi bà Nguyễn Bạch V thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP N thì cho Ngân hàng TMCP N phải trả lại cho bà Nguyễn Bạch V toàn bộ các giấy tờ pháp lý được ghi nhận tại Điều 4 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0139/SGN.NVT/TC20 ngày 07/7/2020.
    4. Trường hợp bà Nguyễn Bạch V không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP N thì Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 560, tờ bản đồ số 28 (TL-BĐĐC 2003), phường L, Quận I (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BA 330575 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là Thành phố T) cấp ngày 17/3/2010, số vào sổ cấp GCN: CH 00134.
    5. Trường hợp việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP N thì bà Nguyễn Bạch V có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP N cho đến khi trả hết nợ.
  2. Về án phí Dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Bạch V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 124.242.550 (một trăm hai mươi bốn triệu hai trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm năm mươi) đồng.

    H1 lại cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm ứng án phí 61.659.000 (sáu mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi chín ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0032443 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Tp ..

  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Nguyễn Bạch V phải trả lại cho Ngân hàng TMCP N 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
  4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Phú Nhuận;
  • - CCTHADS Q.Phú Nhuận;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Minh Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 98/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam khởi kiện bà Nguyễn Bạch Vân về việc "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger