TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29/11/2024
V/v “Xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Phạm Văn Vĩ.
- 2/ Bà Lê Thị Tuyết Mai.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Hận – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 217/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2024 về việc “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 377/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/11/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Kim Đ, sinh năm 1990 (Có mặt).
- Địa chỉ: Số C khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Địa chỉ liên hệ: Số C khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
- - Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1990 (Có mặt).
- Địa chỉ: Số C khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Trần Kim Đ trình bày và yêu cầu: Bà và ông Huỳnh Ngọc T tự nguyện tìm hiểu và quen nhau sau đó tiến đến hôn nhân, có làm lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận C, thành phố Cần Thơ vào năm 2011. C sống thời gian đầu hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, ông T không tôn trọng và có nhiều lời lẽ xúc phạm, giữa bà và ông T đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông T có với nhau 02 (hai) con chung là Huỳnh Ngọc Minh T1 (nam), sinh ngày 11/11/2011 và Huỳnh Ngọc Minh T2 (nữ), sinh ngày 23/10/2018; bà Đ đồng ý để ông T trực tiếp nuôi con là cháu T2 đến trưởng thành, bà không cấp dưỡng nuôi con; riêng cháu T1 sẽ do bà nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà và ông T tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Về nợ chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.
* Phần trình bày của bị đơn ông Huỳnh Ngọc T: Ông T thống nhất với nội dung trình bày của bà Đ về quan hệ hôn nhan, con chung, tài sản chung và nợ chung như trên là đúng. Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng chưa trầm trọng, chỉ là những mâu thuẫn nhỏ và ông còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn với bà Đ.
Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu ly hôn thì ông có ý kiến về con chung, tài sản chung và nợ chung như sau:
Về con chung: Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Ngọc Minh T2 (nữ), sinh ngày 23/10/2018 đến trưởng thành, không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con; đồng ý để bà Đ trực tiếp nuôi Huỳnh Ngọc Minh T1 (nam), sinh ngày 11/11/2011 đến trưởng thành, ông không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Thống nhất ông và bà Đ tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.
Có mặt tại phiên toà, nguyên đơn bà Trần Kim Đ và bị đơn ông Huỳnh Ngọc T vẫn giữ phần trình bày và yêu cầu như trên.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, cũng như tại phiên tòa hôm nay: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục tố tụng. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý giải quyết đúng quy định; Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; không phát hiện vi phạm.
- - Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Đúng quy định.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Trần Kim Đ được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc T, do trong thời gian chung sống thì hôn nhân của bà Đ, ông T phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng nhưng hai người không tự giải quyết mâu thuẫn đã tồn tại, ông T cũng thừa nhận có mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng nhưng không lớn lắm, nhưng bản thân không đưa ra cách thức, biện pháp khắc phục mâu thuẫn đã tồn tại. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thống nhất về con chung giữa ông T với bà Đ, cụ thể giao cháu Huỳnh Ngọc Minh T1 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành; giao cháu Huỳnh Ngọc Minh T2 (nữ) cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến trưởng thành, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Các đương sự khai thống nhất tự thoả thuận, nên không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này. Về nợ chung: Ghi nhận ý kiến của bà Đ và ông T khai không có, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Trần Kim Đ và ông Huỳnh Ngọc T tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân phường P, quận C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35, ngày 04/4/2011, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. C sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không đạt được hạnh phúc như mong muốn nên bà Đ có đơn yêu cầu xin ly hôn với ông T, quan hệ tranh chấp được xác định là “Xin ly hôn”, vụ việc được Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu của các đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà Đ và ông T là hợp pháp trên cơ sở tự nguyện, trong thời gian chung sống thì tình cảm vợ chồng có sự rạn nứt, mâu thuẫn với nhau, giữa hai người không tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn, không hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân đã được xây dựng. Bà Đ cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn ngày càng lớn, không còn tình cảm, không thể hàn gắn, kiên quyết ly hôn với ông T. Bị đơn ông T thừa nhận trong thời gian chung sống ông và bà Đ có phát sinh mẫu thuẫn nhưng không lớn lắm, bản thân muốn hàn gắn, đoàn tụ.
Xét thấy, để xây dựng hạnh phúc của gia đình, cũng như cuộc sống của vợ chồng phải được vun đắp từ tình cảm thật sự xuất phát từ bản thân của cả người vợ và người chồng, sự tự nguyện cả hai người đồng thời cùng duy trì, giữ gìn hạnh phúc đã xây dựng, cùng chăm lo cho nhau và nuôi dạy con chung, nhưng bà Đ và ông T không làm được điều này, bà Đ có ý kiến là kiên quyết được ly hôn, riêng ông T xin đoàn tụ nhưng bản thân không đưa ra được biện pháp hay cách thức giải quyết mâu thuẫn vốn đã tồn tại. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà Đ và ông T không đạt được, đời sống chung thực tế không tồn tại, nghĩ nên cho bà Đ được ly hôn với ông T là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Huỳnh Ngọc Minh T1 (nam), sinh ngày 11/11/2011 và Huỳnh Ngọc Minh T2 (nữ), sinh ngày 23/10/2018. Ông T và bà Đ thống nhất mỗi người sẽ nuôi một con chung, cụ thể giao cháu Minh T1 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành; giao cháu Minh T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến trưởng thành. Xét đây là sự nguyện thoả thuận giữa các bên đương sự, cũng như đảm bảo các điều kiện về tài chính, nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, và phù hợp quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, bà Đ và ông T thống nhất mỗi người nuôi một con chung nên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà Trần Kim Đ và ông Huỳnh Ngọc T theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Bà Đ và ông T khai thống nhất tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác.
- Về nợ chung: Các đương sự khai trong thời gian chung sống không có nợ chung, nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, khi có yêu cầu.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Kim Đ nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 235, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Kim Đ được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc T.
- Về con chung: Có 02 (hai) con chung là Huỳnh Ngọc Minh T1 (nam), sinh ngày 11/11/2011 và Huỳnh Ngọc Minh T2 (nữ), sinh ngày 23/10/2018; giao cháu Minh T1 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành; giao cháu Minh T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến trưởng thành, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho bà Trần Kim Đ và ông Huỳnh Ngọc T theo quy định pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung: Bà Đ và ông T khai thống nhất tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác.
- Về nợ chung: Các đương sự khai trong thời gian chung sống không có nợ chung, nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, khi có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Kim Đ nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003785 ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ; bà Đ đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo quy định./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
* Nơi nhận:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vũ Linh |
Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ về xin ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Cái Răng, Thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
