Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VŨ THƯ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày 08 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Oanh
  2. Bà Nguyễn Thị Nhiễu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tho - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 08/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 25/10/2024 đối với bị cáo:

Trịnh Xuân U, sinh ngày 18/11/1975 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; CCCD số [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trịnh Xuân L và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết). Chưa có vợ con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 13/2022/QĐ-TA ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư buộc đưa Trịnh Xuân U vào Cơ cở cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình, thời hạn 18 tháng. Bị cáo chưa đi thi hành.

Nhân thân: Bản án số 69/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt Trịnh Xuân U 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 12/9/2020, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2021, nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 25/01/2021.

2

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/8/2024 đến ngày 15/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

2.2 Người chứng kiến:

  • - Anh Triệu Trường G, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn M 1, xã V, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
  • - Anh Trần Quốc T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

(Anh G, anh T đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/8/2024, tại nhà ở của Trịnh Xuân U, địa chỉ: thôn T, xã B, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình kiểm tra, thu giữ trong cạp quần sooc U đang mặc 01 túi nilon trong suốt có khóa kẹp bên trong có 03 túi nilon đều trong suốt có khóa kẹp, trong mỗi túi đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, U khai nhận đều là ma túy, loại Heroine, U mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và trưng cầu giám định theo quy định.

Bản Kết luận giám định số 1233/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất, có khối lượng 0,4188 gam (Không phẩy bốn nghìn một trăm tám mươi tám gam).

Về nguồn gốc số ma tuý bị quản lý, U khai mua vào khoảng 20 giờ 00 phU ngày 08/8/2024 của một người nam giới không quen biết với giá 300.000 đồng tại khu vực đê Quán Chuột thuộc xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. U cất giấu số ma túy vừa mua được vào trong cạp quần sooc đang mặc rồi điều khiển xe đạp đi về nhà. Khi U đang ngồi nói chuyện với anh Triệu Trường G và anh Trần Quốc T tại nhà ở của U, chưa kịp sử dụng số ma tuý đã mua thì bị Công an bắt quả tang, quản lý ma tuý.

Cáo trạng số 87/CT-VKSVT ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trịnh Xuân U về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

3

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân U phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Xuân U từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1233/KL-KTHS ngày 13/8/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 08/8/2024, tại nhà ở của Trịnh Xuân U, địa chỉ: thôn T, xã B, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Trịnh Xuân U đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 03 túi

4

nilon chứa ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng là 0,4188 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trịnh Xuân U là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ người sử dụng, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý, biết rõ việc Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma tuý, nhưng do nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo có 01 tiền sự do bị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng chưa đi thi hành quyết định. Bị cáo cũng đã từng 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo đã được xoá án tích, nhưng Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị pháp luật xử lý vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật.

5

Bị cáo không có tiền án, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự do trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cải tạo cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo Trịnh Xuân U có nhân thân xấu, đã bị kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để tăng cường tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy quản lý của bị cáo hoàn lại sau giám định, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về người nam giới đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

6

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân U 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024. Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Xuân U 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
  2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,3398 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1233/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình quản lý của Trịnh Xuân U.

    (Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và phiếu nhập kho đề ngày 14/10/2024).

  3. Về án phí: Bị cáo Trịnh Xuân U phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Xuân U có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Cơ sở giam giữ;
  • - Cơ quan CSĐT, cơ quan THAHS Công an huyện Vũ Thư;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũ Thư;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Thái Bình (gửi qua Công an huyện Vũ Thư)
  • - Lưu Hồ sơ vụ án; Lưu HCTP./.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Bình

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ - TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Xuân U phạm tội TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger