Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98 2024/HSST

Ngày: 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Đặng Viết Hùng

+ Bà Nguyễn Thị Vân

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng -

Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham

gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án

nhân dân huyện Ứng Hòa, TP . xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự

thụ lý số: 96/2024/HSST ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án

ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 15/10/2024 đối với bị cáo:

1. Trần Quốc H - sinh năm: 1995, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Khu

H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Hòa Bình.; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt

Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do;

trình độ văn hoá: 10/12; con ông Trần Quốc P và bà Nguyễn Thị N; V

là: Nguyễn Thị N1 (Đã ly hôn); Có 01 con: lớn sinh năm: 2014; Tiền

án, Tiền sự: không. Nhân thân:

  • - Ngày 12/02/2020, bị Công an huyện L, tỉnh Hòa Bình xử phạt
  • hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền, đã
  • nộp phạt ngày 18/02/2020.
  • - Ngày 14/7/2021, bị Toà án nhân dân huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà
  • Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
  • cai nghiện bắt buộc 14 tháng tại cơ sở cai nghiện số 2 huyện L, tỉnh
  • Hòa Bình, đã chấp hành;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay, hiện

đang tạm giam tại trại tạm giam số 02 Công an thành phố H. Có mặt tại

phiên tòa.

2. Đoàn Văn S – sinh năm: 1993; Nơi ĐKHKTT và nơi ở thôn Đ, xã Đ,

huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn Giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; con

ông Đoàn Văn M (Đã chết) và bà Bùi Thị S1; Vợ con: chưa có; Tiền án:

  • - Ngày 25/9/2015, bị Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
  • xử phạt 08 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 16/02/2016, chấp hành
  • xong hình phạt trở về địa phương, chưa được được xóa án tích.
  • · Ngày 22/9/2016, bị Toà án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xử
  • phạt 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/11/2017, chấp hành xong
  • hình phạt trở về địa phương, chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 06/11/2018, bị Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà
  • Nội xử phạt 05 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày
  • 18/12/2022, chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, chưa được xóa án
  • tích.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 09/8/2010, bị Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hòa Bình

áp dụng biện pháp cưỡng chế đưa vào trường G, thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay,

hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn D – sinh năm: 1963

Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 20/6/2024, H rủ S bắt

xe buýt đi từ chỗ làm của H tại phường T, quận N, thành phố Hà Nội đến khu vực

huyện Ứ, thành phố Hà Nội mua ma túy cùng sử dụng, S đồng ý. Khi đến khu

vực xã L, huyện Ứ thì cả hai xuống xe. S lấy 200.000 đồng từ túi quần ra đưa cho

H để góp tiền mua ma túy, H bỏ ra 300.000 đồng, tổng là 500.000 đồng và bảo

S đứng ngoài đợi, H vào mua được 01 gói ma túy của một người đàn ông không

quen biết với giá 500.000 đồng. Sau đó, H cầm gói ma túy vừa mua được cùng

S đi đến khu vực nghĩa trang (không rõ địa chỉ gần đó) cùng nhau sử dụng hết

một phần bằng hình thức chích, phần ma tuý còn lại H cất giấu ở túi quần bên

trái đang mặc mục đích khi cần sẽ tiếp tục sử dụng chung. Sau đó, H và S đi đến

khu vực thôn P, xã P, huyện Ứ nằm nghỉ tại ghế đá thì bị Tổ công tác Công an xã

H phối hợp với Công an xã P kiểm tra. Tại chỗ, H tự nguyện giao nộp 01 gói giấy

kích thước (2x1)cm bên trong có bột màu trắng, H và S khai nhận là ma túy cả

hai đi mua để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả

tang, thu giữ vật chứng, bàn giao H, S cùng toàn bộ tài liệu liên quan đến đến Cơ

quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ để giải quyết theo quy định của pháp

luật.

Vật chứng thu giữ: 01 gói có đặc điểm kích thước (2x1)cm, bên ngoài

bọc giấy, bên trong có bột màu trắng (Mẫu A1)

Ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ, thành phố

Hà Nội đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1047 đối với vật chứng thu giữ

của Trần Quốc H, tại Phòng K - Công an thành phố H.

Tại bản kết luận giám định số 4808/KL-KTHS ngày 30/6/2024 của

Phòng K - Công an thành phố H, kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma tuý loại Heroine, khối

lượng: 0,274gam.”

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Ứng Hòa truy tố Trần Quốc H và Đoàn Văn S về tội: “Tàng trữ trái

phép chất ma túy” qui định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại

diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm o

khoản 2 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm

2015 xử phạt: bị cáo Đoàn Văn S từ 06 năm tù đến 07 năm tù, thời điểm tù được

tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/6/2024. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều

249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị

cáo Trần Quốc H từ 30 tháng tù đến 36 Tháng tù, thời điểm tù được tính từ ngày

tạm giữ, tạm giam 21/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định.

Các bị cáo phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp

luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được

tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Qúa trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra
  2. viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.
  3. Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai
  4. nhận hành vi phạm tội. Lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan
  5. điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, người làm chứng và các tài liệu
  6. chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác
  7. định: Ngày 21/6/2024, tại thôn P, xã P, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, Trần Quốc
  8. H và Đoàn Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,274 gam ma túy loại heroine,
  9. mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Đối chiếu với quy
  10. định của pháp luật hình sự thì hành vi nêu trên của bị can Trần Quốc H đã phạm
  11. tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249
  12. Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Đoàn Văn S: đã 03 lần bị Toà án đưa ra xét xử về
  13. các tội: “Trộm cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Trong đó bản án
  14. ngày 06/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã
  15. xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định
  16. khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249
  17. Bộ luật hình sự; Ngày 18/12/2022, S chấp hành xong hình phạt trở về địa
  18. phương, chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, lần phạm tội
  19. này của bị can Đoàn Văn S thuộc trường hợp định khung tăng nặng: “Tái phạm
  20. nguy hiểm”, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó,
  21. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo theo tội
  22. danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho

xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước

đối với các chất ma túy, mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân dẫn

đến các tội phạm khác. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị

cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo,

giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

  1. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách
  2. nhiệm hình sự của bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã

nhận thức được hành vi vi phạm của mình, thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn

hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm

s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Các Bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu

nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  1. Đối với nguồn gốc số ma túy: Theo Trần Quốc H khai nhận ngày
  2. 20/6/2024, H mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực xã L,
  3. huyện Ứ, thành phố Hà Nội do trời tối nên không rõ đặc điểm của người này;
  4. hiện H không còn nhớ vị trí. Việc mua bán ma túy của H diễn ra không có ai khác
  5. biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở xác minh làm rõ, nên không
  6. đề cập xử lý.
  1. Về vật chứng: Số ma túy gửi lại sau giám định là vật cấm lưu hành
  2. cần tịch thu tiêu hủy;
  1. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
  2. Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Đoàn Văn S;
  3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ
  4. luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Trần Quốc H:

Tuyên bị cáo Đoàn Văn S và Trần Quốc H phạm tội Tàng trữ trái phép

chất ma túy.

Xử phạt: bị cáo Đoàn Văn S 06 (Sáu) năm tù, thời điểm chấp hành hình

phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời điểm chấp

hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/6/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

  1. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; Điều
  2. 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm
  3. phong đề Công an thành phố H; Công an huyện Ứ; Tên đối tượng Trần Quốc H sinh
  4. năm 1995 ở Khu H, C, L, Hòa Bình; Đoàn Văn S sinh năm 1993 ở Đ, Đ, L, Hòa
  5. Bình; Ngày niêm phong 21/6/2024, mặt bên của phong bì có chữ ký của Giám
  6. định viên Nguyễn Hồng Q, đối tượng Trần Quốc H, Đoàn Văn S, cán bộ điều tra
  7. Nguyễn Việt T và dấu của cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứ, Hà Nội tại các mép
  8. niêm phong. (Vật chứng có tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật
  9. chứng giữa Công an huyện Ứ, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa ngày
  10. 14/10/2024).
  1. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết
  2. 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
  3. mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mỗi
  4. bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
  2. kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - CA, VKS, THADS Ứng Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98 2024/HSST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 98 2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger