Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

chung"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Trọng Thứ;

2. Bà Phạm Thị Thúy Mùi.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/9/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tố A, sinh năm 1996

Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1985

Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Chị A, anh H đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tố A có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quốc H tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 04/01/2022. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thành phố Hà Nội và lao động tự do. Cuộc sống hạnh phúc, hòa thuận đến khoảng tháng 02 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống; vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2023 cho đến nay mỗi người sống một nơi. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn, chị xin ly hôn anh H.

Về con chung: Chị A và anh H có 01 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022 hiện đang ở cùng chị A, ly hôn chị đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị A không có thai. Chị A làm quản lý tạp hóa, bán hàng tại điểm bán hàng Viettel, thu nhập 1 tháng của chị khoảng 10 triệu đến 12 triệu đồng. Ngày 23/7/2024 nhà chị có họp gia đình có thống nhất của anh chị và bố mẹ chị sinh nhật 60 tuổi của bố mẹ chị sẽ giao toàn bộ tài sản đất đai nhà của cho chị quản lý sau khi ông bà mất.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại buổi hòa giải ngày 16/9/2024 anh H có gửi quà trung thu cho cháu Đ nhưng chị không nhận nên anh H đã quay video và đe dọa chị.

Tại đơn yêu cầu giải quyết, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì bị đơn anh Nguyễn Quốc H trình bày tại phiên tòa như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 04/01/2022. Sau khi kết hôn anh xin việc cho chị A làm nhân viên của phòng anh ở công ty trên Hà Nội được một thời gian thì chị A phá bĩnh, sau đó chị A không làm công việc này nữa. Sau đó anh H thấy chị A không có công ăn việc làm, nên đã xin cho chị A làm nhân viên văn phòng của cửa hàng H2 tại Hà Nội nhưng chị A không làm nên không đăng ký vào đó nữa, một thời gian sau anh đã hỏi chị A muốn kinh doanh gì để anh và gia đình lo tiền làm vốn và hỗ trợ công việc làm ăn nhưng chị A cũng không làm. Một thời gian sau anh bảo chị A là ông bà nội có quán ở nhà về đó hỗ trợ ông bà bán hàng tạp hóa sau đó quản lý luôn cửa hàng vì ông bà cũng già rồi nhưng chị A không về, những phương án trên không được thì một thời gian sau anh có bảo chị A là ông bà nội có mảnh đất gần đó thì vợ chồng về xây nhà làm quán bán hàng tạp hóa nhưng chị A không về, đến ngày 23/01/2023 chị A đã tự ý bế con về ngoại sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, trong quá trình sinh sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, sau đó chị A viết đơn ly hôn mấy lần nhưng anh H không đồng ý vì muốn cháu Đ có cả bố lẫn mẹ, trong quá trình ly thân anh H cũng lên đón chị A nhiều lần nhưng chị A không về. Nay chị cố tình Anh làm đơn xin ly hôn, thì anh H cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022 hiện đang ở cùng chị A, ly hôn anh H đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con chung. Kể từ tháng 11/2023 đến nay anh H về làm thêm một căn nhà nữa cho ông bà nội. Hiện nay anh H đang ở 1 mình và quản lý căn nhà này. Gia đình anh đã hoàn thiện xong nhà làm quán bán hàng diện tích khoảng 300 m², chuẩn bị nhập hàng về bán và để anh quản lý và sinh sống ở đấy sau rồi cho anh mảnh đất và cái nhà này. Như vầy anh sẽ có điều kiện chăm lo con hơn. Trường học mầm non, trường tiểu học, trường T2, cả 3 trường học cạnh nhà anh có khoảng cách 400m đến 500m rất thuận tiện cho việc đưa đón con chung, anh có điều kiện công việc ổn định để chăm sóc con hơn chị A.

Tại buổi hòa giải ngày 16/9/2024 anh H có gửi quà Trung thu cho cháu Đ nhưng chị A không nhận, anh H đã quay lai vi deo làm bằng chứng. Anh H đề nghị tòa án xác minh lại đối với diện tích đất của bố mẹ anh.

- Tại biên bản xác minh với ông Nguyễn Văn H1 là bố đẻ chị Nguyễn Thị Tố A thể hiện: Chị Nguyễn Thị Tố A và anh Nguyễn Quốc H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 04/01/2022. Trước khi kết hôn với chị A thì anh H đã có 01 vợ nhưng đã ly hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại gia đình anh H tại xã Q một thời gian sau đó vợ chồng chuyển lên Hà Nội sinh sống và làm ăn. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn gia đình không nắm rõ. Tháng 01/2023 chị A đã về gia đình tại thôn H, xã A sinh sống, vợ chồng cũng ly thân từ đó. Nay chị A có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn. Về con chung: Chị A, anh H có 01 Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022, hiện con chung đang ở cùng chị A, ly hôn đề nghị giao con chung cho chị A nuôi dưỡng. Về tài sản chung: vợ chồng không có tài sản chung. Gia đình có ngôi nhà mái bằng 2 tầng rộng khoảng 200 m² cùng các công trình khác phục vụ cho việc sinh hoạt hàng ngày. Vợ chồng ông H1 vẫn khỏe mạnh để cùng chị A chăm sóc cháu Đ. Cháu Đ vẫn khỏe mạnh phát triển bình thường, gia đình ông H1 giao cho chị A của hàng tạp hóa để kinh doanh, ngoài ra chị A còn bán hàng ăn uống, cuối tháng chị A còn làm thêm thu tiền mạng, thu nhập hàng tháng khoảng 10 triệu đến 12 triệu đồng.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn H, cán bộ tư pháp xã A, huyện M, thành phố Hà Nội thể hiện:

Chị Nguyễn Thị Tố A và anh Nguyễn Quốc H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 04/01/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh H và lao động tự do. Quá trình chung sống giữa vợ chồng mâu thuẫn như thế nào thì cơ sở không nắm rõ, khoảng tháng 02/2023 chị A đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội sinh sống. Nay chị A có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của vợ chồng. Về con chung: Chị A và anh H có 01 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022 hiện đang ở cùng chị A. Hiện chị A đang ở cùng bố mẹ đẻ tại thôn H, xã A. Gia đình chị A có ngôi nhà mái bằng 2 tầng rộng khoảng 200 m² cùng các công trình khác phục vụ cho việc sinh hoạt hàng ngày. Bố mẹ chị A vẫn khỏe mạnh để cùng chị A chăm sóc nuôi dưỡng con chung, hằng ngày chị A và bố mẹ thay nhau chăm sóc đưa cháu đi học. Cháu Đ hiện vào học lớp 02 tuổi trường mầm non xã A, cháu Đ vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường như các bạn cùng trang lứa. Chị A đang ở nhà bán hàng tạp hóa cũng như đồ ăn, cuối tháng chị A còn làm thêm công việc thu tiền mạng, thu nhập 1 tháng khoảng 10 triệu đến 12 triệu đồng. Công việc của chị A có đủ thời gian để chăm lo cho con. Cơ sở đề nghị Tòa án giao con chung cho chị A vì chị Anh nuôi cháu từ nhỏ và có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ.

- Tại biên bản xác minh với ông Nguyễn Văn T là bố đẻ anh Nguyễn Quốc H thể hiện: Chị Nguyễn Thị Tố A và anh Nguyễn Quốc H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 04/01/2022. Trước khi kết hôn kết hôn với chị A thì anh H đã có vợ và đã ly hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại gia đình ông T tại xã Q một thời gian sau đó vợ chồng chuyển lên Hà Nội sinh sống và làm ăn. Quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn như thế nào gia đình không nắm rõ. Sau tết âm lịch 2023 chị A xin phép gia đình ông đưa con về nhà bố mẹ đẻ chơi, sau đó chị A không quoay về gia đình sinh sống nữa. Nay chị A có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào nguyện vọng của vợ chồng để giải quyết. Về con chung: Chị A, anh H có 01 Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022, hiện con chung đang ở cùng chị A, ly hôn đề nghị giao con chung cho anh H nuôi dưỡng và không yêu cầu chị A phải cấp dưỡng nuôi con. Lý do gia đình đề nghị Tòa án giao con cho anh H được nuôi dưỡng vì trước đó anh H có 01 con chung với vợ cũ nhưng vợ cũ cũ anh H đang nuôi dưỡng nên gia đình muốn cháu Đ về ở cùng với anh H. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung.

Anh H đang ở cùng gia đình ông T ở thôn A, xã Q. Gia đình ông Tống có ngôi nhà cấp 4 rộng khoảng 100m² cùng các công trình sinh hoạt khác. Vợ chồng ông T vẫn còn khỏe mạnh để cùng anh H chăm sóc con chung. Anh H hiện đang lao động tự do ở địa phương thu nhập như thế nào gia đình không nắm rõ, hàng ngày anh H có thời gian để chăm sóc cho con chung.

- Tại biên bản xác minh với cơ sở thôn A, cán bộ tư pháp xã Q, huyện Q thể hiện:

Chị Nguyễn Thị Tố A và anh Nguyễn Quốc H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q vào ngày 04/01/2022. Trước khi kết hôn với chị A thì anh H đã có vợ và đã ly hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại gia đình anh H một thời gian sau đó vợ chồng lên Hà Nội làm ăn. Quá trình chung sống giữa vợ chồng mâu thuẫn như thế nào thì cơ sở không nắm rõ. Nay chị A có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của vợ chồng. Về con chung: Chị A và anh H có 01 con chung là Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022. Ly hôn đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của vợ chồng, điều kiện hai bên và quy định của pháp luật để giải quyết, việc cấp dưỡng nuôi con đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Cơ sở không nắm rõ. Anh H hiện đang ở cùng bố mẹ đẻ tại thôn A, xã Q. Gia đình anh H có ngôi nhà cấp 4 rộng khoảng 50 m² cùng các công trình sinh hoạt khác, bố mẹ đẻ anh H vẫn còn khỏe mạnh để cùng anh H chăm sóc con cái. Tại địa phương anh H đang dựng xưởng để làm ăn, thu nhập như thế nào cơ sở không nắm rõ.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 85 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Tố A được ly hôn anh Nguyễn Quốc H; giao cho chị Nguyễn Thị Tố A trực tiếp nuôi con Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022; anh Nguyễn Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị Tố A và anh Nguyễn Quốc H là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã Q, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi dưỡng con chung và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của Chị A, anh H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 04/01/2022 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2023 đến nay không hỏi han, chia sẻ với nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc chị A đề nghị ly hôn nhưng anh H cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân, mỗi người sống một nơi. Như vậy, có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A, xử cho chị được ly hôn anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Tố A và anh Nguyễn Quốc H có 01 con chung Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022, hiện con chung đang ở cùng chị A từ khi vợ chồng ly thân. Ly hôn chị A, anh H đều xin được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Xét thấy, nguyện vọng nuôi con chung của chị A, anh H là chính đáng, chị A, anh H có công việc, thu nhập ổn định, tuy nhiên:

Xét về điều kiện vật chất:

Về mức thu nhập: Chị A làm quản lý tạp hóa, bán hàng tại điểm bán hàng Viettel, thu nhập 1 tháng của chị khoảng 10 triệu – 12 triệu đồng có xác nhận của UBND xã A. Gia đình anh H đã hoàn thiện xong nhà làm quán bán hàng diện tích khoảng 300 m², chuẩn bị nhập hàng về bán và để anh H quản lý và sinh sống ở đấy. Cả 2 đều có công việc, thu nhập đủ điều kiện nuôi con chung.

Về điều kiện chỗ ở: Chị A, anh H hiện nay đều không có nhà riêng. Anh H, chị A đều ở cùng bố mẹ đẻ.

Xét về cuộc sống thực tế: Cháu Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022 hiện đang ở cùng chị A từ khi vợ chồng ly thân, hàng ngày chị A đưa đón cháu đi học.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”; khoản 3 Điều 43 Luật trẻ em “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên...”; khoản 4 Điều 2 những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình “...giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ” là được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình chị Nguyễn Thị Tố A không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

Để có thêm căn cứ giao con và đảm bảo quyền lợi của trẻ. Tòa án xác minh với địa phương nói cháu Đ cư trú học tập được cung cấp: Hiện nay cháu Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022 đang ở cùng chị Nguyễn Thị T1 anh tại nhà bố mẹ đẻ chị A là ông Nguyễn Văn H1 tại thôn H, xã A, huyện M, thành phố Hà Nội. Gia đình ông H1 có ngôi nhà mái bằng 2 tầng rộng khoảng 200m² cùng các công trình khác phục vụ cho việc sinh hoạt hàng ngày. Bố mẹ chị A vẫn khỏe mạnh để cùng chị A chăm sóc nuôi dưỡng con chung, hằng ngày chị A và bố mẹ thay nhau chăm sóc đưa cháu đi học. Cháu Đ hiện vào học lớp 02 tuổi trường mầm non xã A, cháu Đ vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường như các bạn cùng trang lứa. Chị A đang ở nhà bán hàng tạp hóa cũng như đồ ăn, cuối tháng chị A còn làm thêm công việc thu tiền mạng, thu nhập 1 tháng khoảng 10 triệu đến 12 triệu đồng. Công việc của chị A có đủ thời gian để chăm lo cho con. Cơ sở đề nghị Tòa án giao con chung cho chị A vì chị Anh nuôi cháu từ nhỏ và có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của con chung, Hội đồng xét xử cần giao cho chị Nguyễn Thị Tố A trực tiếp nuôi con Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022; anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung.

Đối với đơn đề nghị xác minh lại đối với diện tích đất của bố mẹ anh H Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết nên không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tố A, anh Nguyễn Quốc H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Tố A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Tố A được ly hôn anh Nguyễn Quốc H.
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị Tố A trực tiếp nuôi con Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 23/10/2022; anh Nguyễn Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tố A phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị A đã nộp theo Biên lai thu số 0004797 ngày 30/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Tố A, anh Nguyễn Quốc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - UBND xã Quỳnh Hoàng, huyện Quỳnh Phụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị A và anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger