|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 9 - 2024
V/v tranh chấp xác định cha cho con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Đức Nhân
- Bà Lê Thu Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 về việc “tranh chấp xác định cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Minh H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng, có đăng kí kết hôn theo quy định pháp luật, đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 36/2023/QÐST-HNGĐ ngày 27/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình sống ly thân với anh T, chị có quan hệ tình cảm với anh Trần Văn H1, mang thai và sinh một cháu trai ngày 21/5/2024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Q, dự kiến đặt tên là Trần Đức A. Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “………. con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Như vậy, cháu trai do chị sinh ra ngày 21/5/2024 theo quy định của pháp luật là con chung của chị và anh T. Tuy nhiên, tại phiếu kết quả phân tích ADN số: HID2436011 ngày 05/6/2024 của Công ty cổ phần D kết luận: Trần Văn H1 có quan hệ huyết thống cha - con với Trần Đức A.
Do vậy, chị yêu cầu Tòa án xác định anh Trần Văn H1, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu Trần Đức A, ngày 21/5/2024.
* Tại bản tự khai, bị đơn anh Trần Văn H1 trình bày: ngày 21/5/2024, chị Nguyễn Thị Minh H đã sinh cháu Trần Đức A (tên khai sinh dự kiến). Theo quy định của pháp luật con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, cháu trai do chị H sinh ra ngày 21/5/2024 theo quy định của pháp luật là con chung của chị H và chồng cũ của chị H là anh Nguyễn Văn T. Tuy nhiên, anh khẳng định cháu Đức A không phải con chung của chị H và anh T mà là con của anh, điều này phù hợp với phiếu kết quả phân tích ADN số: HID2436011 ngày 05/6/2024 của Công ty cổ phần D xác định anh và cháu Trần Đức A có quan hệ huyết thống cha - con.
* Tại bản tự khai - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T trình bày: ngày 27/11/2023, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn giữa anh và chị Nguyễn Thị Minh H, giữa anh và chị H không có con chung. Ngày 21/5/2024, chị H sinh cháu Trần Đức A (tên khai sinh dự kiến), theo quy định của pháp luật con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, anh khẳng định cháu Trần Đức A không phải là con chung của anh và chị H.
* Tại phiếu kết quả phân tích ADN số: HID2436011 ngày 05/6/2024 của Công ty cổ phần D kết luận: Trần Văn H1 có quan hệ huyết thống cha - con với Trần Đức A.
* Tại đơn xin xét xử vắng mặt, các đương sự giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên.
* Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 88, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cháu Trần Đức A (tên khai sinh dự kiến), sinh ngày 21/5/2024 (Giấy chứng sinh số 24.0428, quyển số 5 do Bệnh viện đa khoa tỉnh Q cấp ngày 21/5/2024, giới tính: nam) là con đẻ của anh Trần Văn H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “xác định cha cho con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Trần Văn H1, cư trú tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Thị Minh H, anh Trần Văn H1 và anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt chị H, anh H1, anh T là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh H và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng, có đăng kí kết hôn theo quy định pháp luật, đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 36/2023/QÐST-HNGĐ ngày 27/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, thời điểm này chị H và anh T không có con chung. Ngày 21/5/2024, chị Nguyễn Thị Minh H sinh được 01 cháu trai dự định đặt tên là Trần Đức A theo giấy chứng sinh số 24.0428, quyển số 5 do Bệnh viện đa khoa tỉnh Q cấp ngày 21/5/2024. Theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “……… con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Như vậy, cháu trai do chị H sinh ra ngày 21/5/2024 theo quy định của pháp luật là con chung của chị H và anh T. Tuy nhiên, tại phiếu kết quả phân tích ADN số: HID2436011 ngày 05/6/2024 của Công ty cổ phần D kết luận: Trần Văn H1 có quan hệ huyết thống cha - con với Trần Đức A. Chị H, anh H1 đều thừa nhận cháu trai do chị H sinh ra ngày 21/5/2024 là con đẻ của anh H1; anh T xác nhận cháu trai do chị H sinh ra ngày 21/5/2024 không phải là con đẻ của anh T và chị H. Như vậy, có đủ cơ sở xác định anh Trần Văn H1 là cha đẻ của cháu Trần Đức A do chị Nguyễn Thị Minh H sinh ra ngày 21/5/2024. Chị H yêu cầu xác định anh H1 là cha đẻ của cháu trai do chị H sinh ra ngày 21/5/2024 là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh H khởi kiện vụ án tranh chấp về xác định cha cho con chưa thành niên nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NG-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình.
[4] Về quyền kháng cáo đối với bản án: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 88, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NG-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh H. Xác định anh Trần Văn H1, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu trai Trần Đức A, do chị Nguyễn Thị Minh H sinh ra ngày 21/5/2024 theo Giấy chứng sinh số 24.0428, quyển số 5 do Bệnh viện đa khoa tỉnh Q cấp ngày 21/5/2024.
- Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Cúc |
Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xác định cha cho con
