TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 98/2024/HS-PT Ngày 23 tháng 9 năm 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh và ông Nguyễn Văn Nghĩa
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lâm Thanh Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2024/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo có kháng cáo: Lâm Thanh Đ, sinh ngày 04/5/2008 tại Vĩnh Phúc; trú tại: Thôn X, xã Q, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn N và bà Hoàng Thị B; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ: Ông Lâm Văn N, sinh năm 1981 (là bố đẻ bị cáo); trú tại: Thôn X, xã Q, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Đ: Bà Nguyễn Thị Thúy H - Trợ giúp viên pháp lý Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V, (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đầu tháng 6/2023, Lâm Thanh Đ xuống thành phố V để tìm việc làm và ở nhờ phòng trọ của anh Ngô Văn T và anh Nguyễn Văn Đ1
đang thuê trọ cùng nhau ở đường N, phường L, thành phố V. Ngày 10/6/2023, qua mạng xã hội Facebook Đ kết bạn và làm quen với Bùi Thị Hồng V. Đ và V nhắn tin nói chuyện trên ứng dụng messenger, qua nói chuyện Đ biết V muốn đi làm thêm hè nhưng gia đình V không đồng ý nên Đ rủ V trốn đi làm thêm cùng Đ, V đồng ý. Chiều ngày 12/6/2023, Đ cùng anh T đến đón V về phòng trọ nơi Đ đang ở nhờ. Đ hỏi anh Đ1 cho V ở lại phòng trọ mấy hôm để V đi tìm việc làm, anh Đ1 đồng ý. V ở lại phòng trọ cùng Đ, anh Đ1, anh T và chị Nguyễn Thị H1 (là bạn gái của T). Buổi tối ngày 12/6/2023, Đ nói chuyện thổ lộ tình cảm của bản thân với V nhưng V trả lời không thích Đ mà chỉ coi Đ là bạn. Lúc này, V nảy sinh tình cảm với anh Đ1 nên Đ cảm thấy ghen tức với anh Đ1. Điệp nhắn tin với Trần Văn T1 là anh họ của Đ đến đánh anh Đ1 vì đã tranh người yêu của Đ, T1 đồng ý. Khi T1 đến phòng trọ của anh Đ1, nghe Đ nói chuyện về mâu thuẫn với anh Đ1, T1 không đồng ý đánh anh Đ1, T1 bảo với Đ là T1 sẽ đứng ra hòa giải giữa anh Đ1 và Đ, Đ đồng ý.
Buổi tối ngày 13/6/2023, Đ và anh T rủ mọi người uống rượu tại phòng trọ của anh Đ1 để hòa giải mâu thuẫn giữa Đ và anh Đ1. Do không được V chấp nhận tình cảm nên Đ nảy sinh ý định ép V uống nhiều rượu làm cho V say rượu, không còn tỉnh táo nhằm mục đích để quan hệ tình dục với V, vì vậy Đ đã liên tục mời V uống khoảng 4 chén rượu đầy. Sau khi cả nhóm uống hết rượu, chị H1 say rượu được anh T bế lên giường ngủ và ôm ngủ. Còn anh Đ1 ra cổng khu trọ ngồi chơi điện tử, lúc này chỉ còn Đ và T1 thì T1 bê V lên giường, còn Đ đến khép cửa phòng trọ và tắt điện mục đích để quan hệ tình dục với V. Lúc này, H1 nằm trong cùng sát tường, tiếp đến lần lượt là T, V, Đ và T1. Đ chỉ tay vào người V, T1 hiểu ý là rủ T1 quan hệ tình dục với V, T1 đồng ý.
T1 bảo Đ đẩy V vào nằm giữa Đ và T1. Đ hiểu ý T1 cũng muốn quan hệ tình dục với V. Đ bảo T1 “để em làm trước, tý anh làm, anh canh cho em”, T1 đồng ý. Sau đó, Đ và T1 cùng dùng tay sờ ngực V. Do sợ mọi người nhìn thấy nên Đ dùng chăn chùm lên người Đ và V. Đ tự kéo quần cộc và quần lót của Đ tới đầu gối rồi Đ nằm úp người lên người Vân, lúc này V mặc 01 váy bên trong có 1 lớp quần bảo hộ, bên trong cùng V còn mặc 01 quần lót. Đ dùng tay đẩy 02 chân của V rộng sang hai bên rồi vén quần lót và lớp quần bảo hộ của chiếc váy V đang mặc sang 01 bên, Đ dùng tay cầm dương vật đang cương cứng đút vào trong âm đạo của V, Đúp người lên người V, hai tay chống xuống giường và giao cấu với V. T1 nằm bên cạnh, tiếp tục sờ tay vào ngực V để kích thích đồng thời cảnh giới cho Đ. V say rượu không tỉnh táo, không có khả năng phản kháng. Khi Đ đang quan hệ tình dục với V, do thấy phòng trọ tắt điện nên anh Đ1 bật đèn pin điện thoại soi vào trong phòng thì thấy Đ nằm đè lên người V và chùm chăn lên người. Đ1 nghĩ rằng V tự nguyện quan hệ tình dục với Đ nên không ngăn cản. Thấy vậy, T1 cấu tay vào người Đ để cảnh báo cho Đ dừng lại.
Đ1 quay ra cửa phòng trọ tiếp tục ngồi chơi điện tử, Đ lại tiếp tục quan hệ tình dục với V, còn T1 nằm cảnh giới đợi tới lượt mình quan hệ tình dục với V.
Đ quan hệ tình dục với V khoảng 05 phút thì V cảm thấy nóng nên tỉnh dậy, thấy Đ đang quan hệ tình dục với mình nên đẩy Đ ra, Đ rút dương vật khỏi âm đạo của V mà chưa kịp xuất tinh, rồi V vùng dậy chạy vào nhà vệ sinh. V vào nhà vệ sinh rửa mặt sau đó chạy ra cổng, Đ chạy theo V nói rằng Đ chưa kịp xuất tinh vào trong âm đạo đâu để cho V yên tâm. V chạy ra ghế đá ở cổng xóm trọ ngồi khóc, lúc này V vẫn chưa tỉnh rượu hẳn, Đ có thừa nhận với anh Đ1 là vừa quan hệ tình dục với V, anh Đ1 đến động viên V và đưa V quay lại phòng trọ để ngủ. Đến khoảng 09-10h sáng ngày 15/6/2023, V tỉnh dậy vào phòng vệ sinh tắm giặt, V thấy có dịch màu trắng bám dính ở quần lót, bộ phận âm đạo của V bị đau rát. V thay bộ quần áo đang mặc ra để ở trong nhà tắm. Đến trưa ngày 16/6/2023, V về nhà, kể lại sự việc bị Đ quan hệ tình dục ngoài ý muốn khi V say rượu với mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Kim K và đến Cơ quan Công an trình báo sự việc, giao nộp vật chứng là chiếc áo lót và chiếc váy màu đen. Tại Cơ quan điều tra Đ và T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và tiến hành thực nghiệm hiện trường, kết quả đều phù hợp với lời khai của các đối tượng có liên quan.
Tại bản Kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: Tại thời điểm giám định, cơ thể Bùi Thị Hồng V không có dấu vết tổn thương, xếp 0%; màng trinh rách cũ, vị trí 3 giờ và 9 giờ; không bị nhiễm HIV và viêm gan B; không tìm thấy xác tinh trùng trong âm đạo, trong buồng tử cung có bào thai 07 tuần 03 ngày.
Tại các bản Kết luận giám định số 33, 34 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận: Tại thời điểm giám định Đ và T1 có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.
Tại Kết luận giám định số 335 ngày 21/6/2023 của V2 xác định: Trong mẫu máu của T1 và Đ âm tính với HIV và viêm gan B, không phát hiện ADN nhiễm sắc thể Y từ chiếc váy ngắn màu đen dạng nỉ lưới và chiếc áo lót ngực màu trắng dạng lưới của cháu V gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1771 ngày 22/6/2023 và số 1781 ngày 23/6/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: Tại thời điểm giám định không phát hiện có nồng độ cồn trong máu của Trần Văn T1 và Lâm Thanh Đ. Tại bản Kết luận giám định số 1775 ngày 22/6/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: Tại thời điểm giám định nồng độ cồn (E) trong máu của V là 38,156mg/100ml máu.
Tại bản Kết luận giám định số 382 ngày 17/7/2023 của V2 thể hiện: Không phát hiện thấy ADN nhiễm sắc thể Y (từ tinh trùng hoặc tế bào nam giới) từ dấu vết trên tăm bông thấm dịch âm đạo của cháu Bùi Thị Hồng V gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 172.24 ngày 10/4/2024 của V2 kết luận: Lâm Thanh Đ, Trần Văn T1 và phôi thai của cháu Bùi Thị Hồng V không có quan hệ huyết thống cha con.
Quá trình điều tra Bùi Thị Hồng V khai nhận đầu tháng 5/2023, V có quan hệ tình cảm với anh Trương Quang P, sinh năm 2003, trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng giữa tháng 5/2023, V và P có quan hệ tình dục 02 lần tại phòng ngủ nhà P, thời điểm này V đã trên 16 tuổi. Tại bản Kết luận giám định số 381 ngày 17/7/2023 của V2 thể hiện: Anh Trương Quang P và phôi thai của cháu V gửi giám định không có quan hệ huyết thống cha con nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với P.
Quá trình điều tra cũng xác định do V thường xuyên bỏ nhà đi chơi với bạn, quan hệ tình dục với nhiều người, V không nhớ tên, tuổi, địa chỉ của những người đã quan hệ tình dục với V. Thời điểm xác định V có thai V đã 16 tuổi 04 tháng 06 ngày, tuổi thai là 07 tuần 03 ngày, do vậy thời điểm mang thai V đã trên 16 tuổi, V khai nhận quá trình quan hệ tình dục với những người này V đều tự nguyện, không bị đe dọa, ép buộc gì.
Đối với anh Nguyễn Văn Đ1 quá trình điều tra xác định, buổi tối ngày 14/6/2024 việc anh thấy Đ nằm đè lên người V và chùm chăn lên người, anh Đ1 nghĩ rằng V tự nguyện quan hệ tình dục với Đ nên không ngăn cản. Hôm sau, anh Đ1 mới biết việc V không đồng ý cho Đ quan hệ tình dục nên anh Đ1 cùng mẹ của V đưa V đến Cơ quan Công an trình báo sự việc trên nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hành vi của anh Đ1 về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật hình sự.
Đối với anh Ngô Văn T và chị Nguyễn Thị H1 quá trình điều tra xác định tại thời điểm Đ và T1 thực hiện hành vi đối với cháu V, chị H1 và anh T có ngủ chung giường với Đ, T1, V trong phòng trọ nhưng do uống rượu say nên ngủ không biết gì, cả hai đều không biết việc Đ và T1 xâm hại tình dục đối với V nên không đề cập xử lý.
Đối với anh Trần Huy H2 và anh Nguyễn Văn V1 có tham gia cùng cả nhóm uống rượu tại phòng trọ của Đ1, sau đó anh V1 ngồi chơi điện tử cùng anh Đ1 ngoài cửa phòng trọ, anh H2 đi vào bên trong phòng nằm ngủ dưới sàn nhà. Anh V1 và anh H2 không biết và không liên quan gì đến hành vi Đ và T1 không đề cập xử lý là phù hợp.
* Về bồi thường dân sự và xử lý vật chứng: Cháu V yêu cầu Đ và T1 mỗi người phải bồi thường cho cháu V số tiền 25.000.000 đồng, bao gồm tiền bồi thường nhân phẩm và tổn hại tinh thần. Ngày 18/3/2024, đại diện gia đình Đ đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Đối với chiếc áo lót, chiếc váy màu đen và chiếc chăn hè chấm bi màu trắng thu giữ trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại số đồ vật trên cho V và anh Đ1. Cháu V và anh Đ1 đã nhận lại tài sản và không có ai có yêu cầu đề nghị gì khác.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2023/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh Đ phạm tội “Hiếp dâm”.
Căn cứ khoản 4 Điều 141; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58, 38, 90, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lâm Thanh Đ 04 (B1) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định tội danh, hình phạt đối với bị cáo T1, xử phạt bị cáo Trần Văn T1 05 năm 09 tháng tù. Bản án sơ thẩm còn xử lý về vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04 tháng 7 năm 2024, bị cáo Lâm Thanh Đ có đơn kháng cáo Bản án với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm, đã phát biểu đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Thanh Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 81/2023/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Áp dụng khoản 4 Điều 141; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38, Điều 90, Điều 91 và 101 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Thanh Đ 04 năm tù.
Bị cáo Lâm Thanh Đ không có ý kiến bào chữa gì khác và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo Đ làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
Do Đ có tình cảm với cháu Bùi Thị Hồng V, nhưng V không có tình cảm với Đ, đồng thời V lại nảy sinh tình cảm với anh Nguyễn Văn Đ1 là bạn của Đ, nên Đ thấy bực tức và muốn quan hệ tình dục với V. Buổi tối ngày 14/6/2023, tại phòng trọ của anh Đ1, Đ rủ một nhóm bạn tổ chức ăn uống, trong bữa ăn, Đ liên tục mời rượu cháu V, mục đích làm cho cháu V uống rượu say, không còn tỉnh táo, không có khả năng tự vệ để thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn với cháu V.
Khi mọi người lần lượt ra về, T1 và Đ đỡ cháu V nằm lên giường có sẵn trong phòng trọ. Lúc này, Đ rủ Trần Văn T1 quan hệ tình dục với cháu V, T1 đồng ý. T1 và Đ thống nhất T1 cảnh giới mọi người cho Đ quan hệ tình dục với cháu V trước, sau khi Đ quan hệ xong sẽ đến lượt T1. Do bị say rượu nên cháu V không có khả năng phản kháng, Đ thực hiện hành vi quan hệ trái ý muốn với cháu V là người chưa đủ 18 tuổi (tính đến ngày 14/6/2023, cháu V mới 16 tuổi 04 tháng 01 ngày). T1 nằm cạnh cảnh giới cho Đ thực hiện hành vi giao cấu với cháu V. Khi Đ đang quan hệ với cháu V thì cháu V tỉnh dậy, Đ chưa xuất tinh được vào trong âm đạo của cháu V và do cháu V tỉnh nên T1 chưa quan hệ tình dục được với cháu V.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lâm Thanh Đ về tội “Hiếp dâm” theo quy định tại khoản 4 Điều 141 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Xét kháng cáo của bị cáo Đ xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này Đ là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo T1 cùng thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn với cháu V, bản thân Đ đã trực tiếp thực hiện hành vi quan hệ tình dục khi chưa được cháu V đồng ý. Đ và
T1 đã có sự thống nhất cùng thực hiện hành vi hiếp dâm đối với cháu V, thời điểm quan hệ bị hại cháu V chưa đủ 18 tuổi và đang mang thai, do đó ngoài việc chịu tình tiết tăng nặng định khung “nhiều người hiếp một người” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 141 của Bộ luật hình sự, bị cáo Đ và bị cáo T1 còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội với “phụ nữ có thai” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4.1]. Mặc dù bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo tích cực tác động để gia đình bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đ chưa đủ 16 tuổi (15 tuổi 01 tháng 09 ngày) nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, mức hình phạt.
[4.2]. Cấp sơ thẩm sau khi xem xét đánh giá một cách toàn diện vụ án, vị trí vai trò, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để xử phạt bị cáo mức án 04 năm tù là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4.3]. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo của bị cáo. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về án phí: Bị cáo Đ là trẻ em, phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.
[6]. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lâm Thanh Đ, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2024/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh Đ phạm tội “Hiếp dâm”.
Áp dụng khoản 4 Điều 141; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 58, 38, 90, 91 và 101 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lâm Thanh Đ 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về án phí: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Đ.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 98/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (tội hiếp dâm)
- Số bản án: 98/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Hiếp dâm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
