Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-9-2024

“V/v ly hôn, tranh chấp

về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến

Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh;
  2. Ông Lê Thành Tâm.

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 74/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 1 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cao Thị Thành L, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Khu phố AH, phường HL, thành phố BC, tỉnh Bình Dương – xin vắng mặt.

Bị đơn: Ông Hoàng Vũ Lâm S, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Khu phố AH, phường HL, thành phố BC, tỉnh Bình Dương – vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Cao Thị Thành L trình bày: Bà L và ông Hoàng Vũ Lâm S tự nguyện sống chung từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường HL, thành phố BC, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng thời gian đầu chung sống bình thường, nhưng sau đó đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là chồng không quan tâm đến vợ con, cụ thể ông S đi làm có khi về nhà có khi đi qua đêm bên ngoài, ông S có quan hệ tình

cảm với người phụ nữ khác, tiền lo cho con thì có lúc đưa cho vợ có lúc không đưa, vợ chồng không hợp tính, bất đồng quan điểm nên ít khi nói chuyện với nhau, khoảng đầu năm 2024 thì ông S và bà L ly thân không còn chung sống với nhau, ông S đã chuyển đi ở nơi khác, từ khi bỏ đi ông S cũng không gọi điện thoại liên lạc, quan tâm hỏi han để hàn gắn tình cảm với bà L, bà L nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn được nữa nên khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà L và ông S có 01 con chung là Hoàng Cao TN, sinh ngày 14/3/2018, con chung đang ở với bà L, sau khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi con, bà L không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn ông Hoàng Vũ Lâm S đối với yêu cầu của nguyên đơn:

Toà án đã triệu tập hợp lệ ông S để làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải đoàn tụ nhưng ông S văng mặt không có lý do.

Tại phiên toà, nguyên đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà L xin vắng mặt, bị đơn ông Hoàng Vũ Lâm S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Hoàng Vũ Lâm S cư trú tại khu phố AH, phường HL, thành phố BC, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Cao Thị Thành L và ông Hoàng Vũ Lâm S tự nguyện sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường HL, thành phố BC, tỉnh Bình Dương, như vậy đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Bà L cho rằng giữa bà và ông S không còn yêu thương nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Do nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, không thể kéo dài cuộc sống vợ chồng nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S. Kết quả xác minh ngày

6/5/2024 và ngày 17/6/2024 thể hiện: ông Hoàng Vũ Lâm S có đăng ký thường trú tại khu phố AH, phường HL, thành phố BC, tỉnh Bình Dương, ông Lập không thường xuyên ở tại địa chỉ này vì ông S đi làm nhưng ông S vẫn về địa chỉ đăng ký thường trú tại khu phố An Hòa vào ngày cuối tuần; địa phương không biết nguyên nhân mâu thuẫn dẫn tới tranh chấp về ly hôn giữa bà L và ông S.

Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân thành phố Bến Cát đã tiến hành triệu tập ông S đến Toà để hoà giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông S không đến và không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Qua đó cho thấy lời trình bày của bà L là có căn cứ, ông S không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến vợ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho các bên ly hôn để trả tự do cho nhau.

[4] Về con chung: Bà L và ông S có 1 con chung là Hoàng Cao TN, sinh ngày 14/3/2018, bà L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét, con chung đang sống với bà bà L ổn định nên cần giao cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng, bà L không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của bà L nên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung; bị đơn vắng mặt và không tranh chấp gì về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Từ các phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, 35, 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, 235 và 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 51, 56, Điều 57, 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Thành L đối với bị đơn ông Hoàng Vũ Lâm S về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Bà Cao Thị Thành L được ly hôn với ông Hoàng Vũ Lâm S.

2. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Cao TN, sinh ngày 14/3/2018 cho bà Cao Thị Thành L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Hoàng Vũ Lâm S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Cao Thị Thành L và ông Hoàng Vũ Lâm S đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, ông S được quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Cao Thị Thành L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp tại Biên lai thu số 0002388 ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự tp Bến Cát;
  • - Uỷ ban nhân dân phường HL, thành phố BC, tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS,VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn do mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger