|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 98/2024/DS-ST
Ngày: 09 - 9 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Bình.
- Ông Nguyễn Văn Thiện.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 382/2023/TLST-DS, ngày 25 tháng 12 năm 2023, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số 175/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Số A, đường số H, thôn F, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Phương N, sinh năm 1981 (Văn bản uỷ quyền ngày 15/11/2023 và ngày 26/3/2024).
Nơi cư trú: Số C, đường C, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn:
- + Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1982.
- Nơi cư trú: Số D, ĐH. Mê Pu – Đ, thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977.
- Hộ khẩu thường trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Nơi cư trú: Số A, ấp B, khu phố C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Duy H3, sinh năm 1982.
- Nơi cư trú: Số A, đường số H, thôn F, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Phương N, sinh năm 1981 (Văn bản uỷ quyền ngày 06/01/2024 và ngày 13/5/2024).
- Nơi cư trú: Số C, đường C, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận
- + Ông Nguyễn Trí T, sinh năm 1980.
- Nơi cư trú: Số D, ĐH. Mê Pu – Đ, thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Ông Nguyễn Đăng T1, sinh năm 1972.
- Hộ khẩu thường trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Nơi cư trú: Số A, ấp B, khu phố C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- + Ông Vũ Bá H4, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982.
- Nơi cư trú: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông.
Tại phiên tòa, có mặt bà H, ông N, vắng mặt bà H1, bà H2, ông T, ông T1 và ông H4; vắng mặt bà D đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy H3 là ông Nguyễn Phương N trình bày: Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Thu H1 là cùng là giáo viên trường trung học phổ thông Q. Bà H biết bà H1 và bà Nguyễn Thị H2 (Bà H2 là chị ruột của bà H1) và một người nữa (Sau này mới biết là ông Vũ Bá H4) đang làm ăn chung về lĩnh vực mua bán sầu riêng. Khoảng đầu năm 2023, bà H1, bà H2 không đủ vốn làm ăn nên có kêu bà H vô làm ăn chung, bà H đồng ý. Bà H sẽ đầu tư tiền, công sức để làm ăn chung. Tiền bà H đầu tư vô thì sẽ được trả lãi theo thoả thuận. Sau khi trừ chi phí như tiền vốn bỏ vô, tiền lãi vay, ... thì lợi nhuận sẽ chia đều cho 4 người. Tuy nhiên, việc làm ăn chung giữa các bên phát sinh tranh chấp do không thống nhất với nhau về việc tính toán sổ sách, lời lỗ nên bà H không tiếp tục làm ăn chung nữa. Bà H, bà H1 và bà H2 thống nhất với nhau là bà H1, bà H2 sẽ trả cho bà H số tiền mà bà H đã đầu tư vào làm ăn chung. Theo đó, vào ngày 19/8/2023, bà H, bà H2 và bà H1 có thống nhất chốt lại tổng số tiền mà bà H đã đầu tư vào làm ăn chung (Trong đó, có khoảng vay 100.000.000 đồng ngày 16/11/2022 là bà H1 vay riêng, không liên quan tới việc làm ăn chung, khoảng vay này đã trả trong số tiền đã trả 470.000.000 đồng). Bà H1 và bà H2 đã ký xác nhận phía dưới người vay. Tổng số tiền bà H1 nhận vay của bà H là 1.400.000.000 đồng. Tổng số tiền bà H2 nhận vay của bà H là 622.100.000 đồng. Trong số tiền chốt nợ thì bà H1 đã trả cho bà H được số tiền là 470.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 930.000.000 đồng; bà H2 đã trả cho bà H được số tiền là 140.500.000 đồng và còn nợ lại số tiền 481.600.000 đồng. Khi cho vay thì các bên có thoả thuận về lãi suất nhưng khi viết giấy tổng số tiền cho vay các bên không thoả thuận mức lãi suất.
Ông yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 và chồng là ông Nguyễn Trí T phải trả cho bà H và chồng là ông Nguyễn Duy H3 số tiền 930.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 0,83%/tháng kể từ ngày nộp đơn khởi kiện 13/12/2023 đến nay; buộc bà Nguyễn Thị H2 và chồng là ông Nguyễn Đăng T1 phải cho vợ chồng bà H số tiền 481.600.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 0,83%/tháng kể từ ngày nộp đơn khởi kiện bổ sung 13/3/2024 đến nay.
Quá trình các bên làm ăn chung, ông Nguyễn Trí T và ông Nguyễn Đăng T1 đều biết. Trước đây, ông có nhận đại diện theo uỷ quyền của bà H1, bà H2 và bà H để làm đơn tố cáo ông Vũ Bá H4 về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Sau đó, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ đã chuyển cho cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đã ban hành thông báo và chỉ dẫn số 564/TB-VPCQCSĐT ngày 21/10/2023 về việc thông báo đây là tranh chấp dân sự và đề nghị các bên gửi đơn tại Toà án để giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự. Việc bà H1, bà H2 và bà H uỷ quyền cho ông làm đơn tố cáo ông H4 cũng phát sinh từ việc tranh chấp trong quá trình làm ăn chung giữa các bên với nhau.
Tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Do bà H1, bà H2 vay tiền của bà để mua bán sầu riêng nên bà mới phải tham gia vào việc mua bán sầu riêng để kiểm soát việc sử dụng số tiền và để biết mà thu hồi số tiền cho vay. Khi cho vay thì các bên thoả thuận miệng lãi suất là 2%/tháng, đến khi viết giấy “Tổng số tiền H cho H1, H2 vay” ngày 19/8/2023 chỉ thoả thuận miệng lãi suất là 1,5%/tháng. Trong các khoản vay của bà H1 vay, thì chỉ có khoản vay 100.000.000 đồng ngày 16/11/2022, khoản vay 20.000.000 đồng ngày 26/4/2023 và khoản vay 30.000.000 đồng ngày 28/4/2023 là trả lãi đầy đủ theo mức lãi suất 2%/tháng từ ngày vay đến ngày 30/8/2023, các khoản vay còn lại thì bà H1 chưa trả lãi. Đối với các khoản vay của bà H2 thì bà H2 cũng chưa trả lãi cho bà. Việc mua bán sầu riêng thì chồng bà H1, bà H2 đều biết và tạo điều kiện cho các bà mua bán sầu riêng. Số tiền 470.000.000 đồng thì bà H1 trả cho bà bằng 4 lần chuyển khoản với số tiền tổng cộng là 420.000.000 đồng và 1 lần tiền mặt 50.000.000 đồng. Số tiền 140.500.000 đồng thì bà H2 trả cho bà bằng 4 lần chuyển khoản.
* Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày: Từ cuối tháng 5/2023, bà, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị H2 và ông Vũ Bá H4 có đầu tư làm ăn chung về lĩnh vực mua bán sầu riêng. Bà, bà H2 và bà H có trách nhiệm tìm mua sầu riêng (mua nguyên vườn, mua ở vựa sầu riêng), ông H4 có trách nhiệm đi bán sầu riêng. Quá trình làm ăn chung, lợi nhuận sẽ phân chia thành 05 phần, các bà (H, H1, H2) mỗi người 1 phần, ông H4 2 phần (bởi vì ông H4 có đại diện cho 1 người nữa để làm ăn chung). Quá trình làm ăn chung, giữa bà, bà H, bà H2 có phát sinh tranh chấp với ông H4, nguyên nhân là bà, bà H, bà H2 cho rằng buôn bán có lợi nhuận nhưng ông H4 lại nói là bán không có lời. Sau đó, do không thống nhất được nên các bà (H1, H, H2) có uỷ quyền cho ông Nguyễn Phương N (hiện nay là người đại diện theo uỷ quyền của bà H) làm đơn tố cáo ông H4 tại công an huyện Đ, tỉnh Đăk Nông nhưng sau đó công an cho rằng vụ án không có dấu hiệu tội phạm nên không giải quyết.
Quá trình làm ăn chung, bà H có góp vốn vào đầu tư làm ăn chung, bà H có chuyển khoản vào tài khoản của bà nhiều lần với số tiền tổng cộng là 820.000.000 đồng. Số tiền còn lại theo đơn khởi kiện của bà H thì có khoản tiền vay 100.000.000 đồng ngày 16/11/2022, vay 20.000.000 đồng ngày 26/4/2023, vay 30.000.000 đồng ngày 28/4/2023 và vay 120.000.000 đồng ngày 21/6/2023 thì không liên quan đến tiền góp vốn làm ăn chung và bà đã trả hết các khoản tiền này.
Quá trình làm ăn chung, bà có góp vốn vào làm ăn chung khoảng 250.000.000 đồng. Đã rút ra được số tiền 120.000.000 đồng, vẫn còn âm nợ 130.000.000 đồng.
Chồng bà tên Nguyễn Trí T, sinh năm 1980. Ông bà kết hôn năm 2009. Chồng bà có biết việc bà và bà H có làm ăn mua bán sầu riêng chung nhưng quá trình làm ăn diễn ra như thế nào thì chồng bà không biết. Việc tranh chấp giữa bà và bà H thì chồng bà có biết. Bà bắt đầu làm ăn mua bán sầu riêng từ cuối tháng 5/2023, mục đích để kiếm lợi nhuận để phát triển kinh tế gia đình và chăm lo cho các con.
Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H vì việc bà H khởi kiện không đúng sự thật vì là vụ việc làm ăn chung, không phải vay mượn riêng. Giấy có nội dung là “chốt tổng số tiền H cho H1, H2 vay” đề ngày 19/8/2023 do nguyên đơn nộp khi khởi kiện là không đúng sự thật. Từ trước đến nay, bà chưa từng ký cho bà H bất kỳ giấy vay nợ nào hết, bởi vì khi ký bất kỳ giấy tờ nào với bà H thì bà đều đọc kỹ nội dung rồi mới ký tên. Đối với chữ ký và chữ viết ghi tên Nguyễn Thị Thu H1 phía dưới dòng chữ “Bên vay” bà sẽ xem xét lại có phải chữ viết và chữ ký của bà không.
* Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị H2 trình bày: Bà không có vay tiền của bà Nguyễn Thị H, mà nhóm chung gồm bà, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Vũ Bá H4 hợp tác kinh doanh sầu riêng tại khu vực xã Đ, huyện Đ từ khoảng tháng 5/2023. Bà H và bà chỉ trao đổi về số tiền hợp tác kinh doanh sầu riêng, những lần chuyển khoản hay chi tiền mặt thì bà H đều ghi rõ nội dung là chuyển tiền để đặt cọc hay trả tiền sầu riêng. Việc hợp tác mua sầu riêng đến khoảng tháng 8/2023 thì ông H4 tính toán thu chi không rõ ràng nên phát sinh mâu thuẫn. Thời gian đầu, bà H có đề nghị bà và bà H1 cùng nhau yêu cầu ông H4 tính toán lại sổ sách rõ ràng và yêu cầu ông H4 thanh toán lợi nhuận nhưng sau đó bà H tự ý thuê người khác thực hiện và gây áp lực cho bà, bà H1 yêu cầu phối hợp với việc buộc ông H4 trả tiền. Sau đó, bà H tự ý sửa đổi các giấy hợp tác làm ăn chung thành giấy vay mượn tiền và tiến hành khởi kiện bà.
* Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trí T trình bày: Việc bà H1, bà H2 và bà H hợp tác mua bán sầu riêng thì ông không quan tâm vì ông có việc riêng của ông. Bà H1 ngoài mua bán sầu riêng thì công việc chính là giáo viên. Việc bà H1 bắt đầu mua bán sầu riêng từ thời gian nào thì ông không rõ. Ông và bà H1 là vợ chồng hợp pháp và hiện đang sống chung.
* Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Bá H4 trình bày: Vào năm 2023, ông có làm ăn chung với bà H1, bà H2 về việc thu mua sầu riêng để bán lại. Tuy nhiên, các ông bà lại không có nhiều vốn nên bà H có xin vô để làm ăn chung. Các ông bà đồng ý để cho bà H vô làm ăn chung và góp vốn. Theo đó, bà H góp vốn vô làm ăn chung. Lợi nhuận làm ăn chung (sau khi trừ tất cả các chi phí phát sinh) sẽ chia đều cho 4 người. Quá trình làm ăn, sau nhiều lần cùng tính toán sổ sách chung của các bên (Khi tính toán sổ sách thì có sự tham gia của ông Nguyễn Phương N) nhưng các bên vẫn chưa thống nhất được lời, lỗ nên mới phát sinh chuyện bà H kiện bà H1, bà H2.
Quá trình làm ăn chung, các bên có chuyển khoản vào tài khoản của vợ ông là bà Nguyễn Thị D, ông giải thích như sau: Số tài khoản trên đứng tên chủ tài khoản là vợ ông nhưng ông là người trực tiếp cầm thẻ ATM và sử dụng số tiền trong tài khoản. Các giao dịch qua số tài khoản trên là giao dịch của ông. Việc làm ăn chung của các bên không liên quan đến bà D.
* Quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D trình bày: Quá trình làm ăn chung, các bên có chuyển khoản vào tài khoản của bà nhưng chồng bà ông Vũ Bá H4 là người trực tiếp cầm thẻ ATM và sử dụng số tiền trong tài khoản. Các giao dịch qua số tài khoản trên là giao dịch của chồng bà. Việc làm ăn chung của các bên không liên quan đến bà.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng không hòa giải được.
* Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H3, bà D đã chấp hành đúng pháp luật. Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T, ông T1 và ông H4 không chấp hành đúng pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Nguyễn Trí T phải trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Duy H3 số tiền nợ gốc còn lại sau khi đã trừ số tiền lãi đã trả trả cao hơn lãi suất cho phép vào số tiền nợ vay 930.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 0,83%/tháng, kể từ ngày nộp đơn khởi kiện 13/12/2023 đến nay; buộc bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Đăng T1 phải cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Duy H3 số tiền 481.600.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất 0,83%/tháng, kể từ ngày nộp đơn khởi kiện bổ sung 13/3/2024 đến nay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, có mặt người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy H3 là ông Nguyễn Phương N. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị D đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, có đơn xin hoãn phiên toà nhưng lý do bà đưa ra là bà đang đưa đơn tố giác hành vi sai trái của bà Nguyễn Thị H nên không tham gia phiên toà được, xét thấy lý do hoãn phiên toà của bà H2 không phải là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trí T, ông Nguyễn Đăng T1 và ông Vũ Bá H4 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của các đương sự là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với các đương sự vắng mặt.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về hợp đồng vay tài sản:
Sau khi xem xét vào các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn, bị đơn cung cấp; lời khai của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng đầu năm 2023, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Thu H1, bà Nguyễn Thị H2 và ông Vũ Bá H4 có đầu tư làm ăn chung về lĩnh vực mua bán sầu riêng. Quá trình làm ăn chung, bà H có góp vốn vào đầu tư làm ăn chung. Do bà H, H1, H2 cho rằng ông H4 tính toán sổ sách không đúng nên đã phát sinh tranh chấp với ông H4. Bà H, H1, H2 đã làm đơn tố giác ông H4 tại công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Sau đó, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ đã chuyển cho cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Đ đã ban hành thông báo và chỉ dẫn số 564/TB-VPCQCSĐT ngày 21/10/2023 về việc thông báo đây là tranh chấp dân sự và đề nghị các bên gửi đơn tại Toà án để giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự.
Mặc dù, bà H1 và bà H2 cho rằng các bà không có chốt lại các khoản vay mà bà H đã góp vốn làm ăn chung, nhưng căn cứ vào giấy “Tổng số tiền H cho H1, H2 vay” ngày 19/8/2023 thể hiện nội dung là bà H1, bà H2 đã nhận vay của bà H. Phần cuối của giấy “Tổng số tiền H cho H1, H2 vay” có chữ ký và chữ viết ghi tên Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị H phía dưới dòng chữ “Bên vay”. Bà H1, bà H2 cho rằng tài liệu này là giả mạo chữ viết, chữ ký của các bà nhưng không ai làm đơn yêu cầu Toà án tiến hành trưng cầu giám định đối với tài liệu này.
Khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.”
Mặc dù, bị đơn cho rằng chứng cứ nguyên đơn cung cấp là giả mạo nhưng không ai yêu cầu Toà án tiến hành trưng cầu giám định, do đó, Hội đồng xét xử xác định giấy “Tổng số tiền H cho H1, H2 vay” do nguyên đơn giao nộp là chứng cứ.
Căn cứ vào giấy “Tổng số tiền H cho H1, H2 vay” ngày 19/8/2023 thì tổng số tiền bà H1 nhận đã vay của bà H là 1.400.000.000 đồng, tổng số tiền bà H2 nhận đã vay của bà H là 622.100.000 đồng.
[2.2] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:
Đây là hợp đồng vay tài sản do các bên tự nguyện ký kết, khi ký kết các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự thì bên vay phải trả cho bên cho vay tiền nợ vay và tiền lãi phát sinh.
[2.2.1] Về tiền nợ vay:
Nguyên đơn trình bày trong tổng số tiền nợ vay, thì bà H1 đã trả được số tiền là 470.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 930.000.000 đồng; bà H2 đã trả được số tiền là 140.500.000 đồng và còn nợ lại số tiền 481.600.000 đồng. Việc nguyên đơn thừa nhận số tiền đã trả là có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.
Tuy nhiên, do bà H1 đã trả lãi đầy đủ của các khoản vay 100.000.000 đồng ngày 16/11/2022, khoản vay 20.000.000 đồng ngày 26/4/2023 và khoản vay 30.000.000 đồng ngày 28/4/2023 từ ngày vay đến ngày 30/8/2023 theo mức lãi suất 2%/tháng là cao hơn mức lãi suất tối đa cho phép 1,66%/tháng nên cần tính lại số tiền lãi đã trả và trừ số tiền lãi đã trả cao hơn lãi suất cho phép vào tiền nợ gốc. Cụ thể:
- Đối với khoản vay 100.000.000 đồng ngày 16/11/2022:
- Đối với khoản vay 20.000.000 đồng ngày 26/4/2023:
- Đối với khoản vay 30.000.000 đồng ngày 28/4/2023:
Tiền lãi đã trả từ ngày 16/11/2022 đến ngày 30/8/2023 theo mức lãi suất 2%/tháng là 18.933.000 đồng.
Tiền lãi ngày 16/11/2022 đến ngày 30/8/2023 theo mức lãi suất tối đa cho phép 1,66%/tháng là 15.715.000 đồng.
Tiền lãi đã trả từ ngày 26/4/2023 đến ngày 30/8/2023 theo mức lãi suất 2%/tháng là 1.653.000 đồng.
Tiền lãi ngày 26/4/2023 đến ngày 30/8/2023 theo mức lãi suất tối đa cho phép 1,66%/tháng là 1.372.000 đồng.
Tiền lãi đã trả từ ngày 28/4/2023 đến ngày 30/8/2023 theo mức lãi suất 2%/tháng là 2.440.000 đồng.
Tiền lãi ngày 28/4/2023 đến ngày 30/8/2023 theo mức lãi suất tối đa cho phép 1,66%/tháng là 2.025.000 đồng.
Vì vậy, tổng số tiền lãi đã trả cao hơn mức lãi suất cho phép là 3.914.000 đồng. Do đó, cần buộc bà H1 phải trả số tiền nợ vay còn lại là 926.086.000 đồng (930.000.000 đồng – 3.914.000 đồng), buộc bà H2 phải trả số tiền nợ vay còn lại là 481.600.000 đồng.
[2.2.2] Về tiền lãi: Căn cứ vào giấy “Tổng số tiền H cho H1, H2 vay” ngày 19/8/2023 xác định đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi quy định tại khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự.
Đối với mức lãi suất do nguyên đơn yêu cầu 0,83%/tháng là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận. Tiền lãi trên nợ vay được xác định như sau:
Tiền lãi của số tiền nợ vay 926.086.000 đồng: Từ ngày nộp đơn khởi kiện 13/12/2023 đến ngày 09/9/2024 là 8 tháng 27 ngày x 926.086.000 đồng x 0,83%/tháng = 68.410.000 đồng.
Tiền lãi của số tiền nợ vay 481.600.000 đồng: Từ ngày nộp đơn khởi kiện bổ sung 13/3/2023 đến ngày 09/9/2024 là 5 tháng 27 ngày x 481.600.000 đồng x 0,83%/tháng = 23.584.000 đồng.
Tổng số tiền bà H1 phải trả cho bà H và ông H3 là 994.496.000 đồng (Trong đó, tiền nợ vay là 926.086.000 đồng và tiền lãi là 68.410.000 đồng).
Tổng số tiền bà H2 phải trả cho bà H và ông H3 là 505.184.000 đồng (Trong đó, tiền nợ vay là 481.600.000 đồng và tiền lãi là 23.584.000 đồng).
[3] Về nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trí T, ông Nguyễn Đăng T1: Khi vay tiền, không có sự tham gia của ông Nguyễn Trí T, ông Nguyễn Đăng T1 nhưng bà H1, H2 đã sử dụng số tiền vay để thua mua sầu riêng bán lại nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, phục vụ cho cuộc sống của gia đình.
Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ, chồng phải có nghĩa vụ liên đới trong trường hợp vợ hoặc chồng thực thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Thấy rằng, bị đơn đã sử dụng số tiền vay vào mục đích chung của gia đình, nhằm kiếm lời, để phục vụ cho cuộc sống gia đình. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trí T, ông Nguyễn Đăng T1 phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.
[4] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn bà H1, bà H2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T, ông T1 phải chịu toàn bộ án phí DSST có gía ngạch đối với số tiền phải trả nợ.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 và khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 2 Điều 5, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Nguyễn Trí T phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Duy H3 số tiền 994.496.000 đồng (Chín trăm chín mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Trong đó, tiền nợ vay là 926.086.000 đồng và tiền lãi là 68.410.000 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Đăng T1 phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Duy H3 số tiền 505.184.000 đồng (Năm trăm lẻ năm triệu một trăm tám mươi bốn nghìn đồng). Trong đó, tiền nợ vay là 481.600.000 đồng và tiền lãi là 23.584.000 đồng.
Kể từ ngày 10/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2/ Về án phí DSST:
Bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Nguyễn Trí T phải chịu 41.835.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Đăng T1 phải chịu 24.207.000 đồng (Hai mươi bốn triệu hai trăm lẻ bảy nghìn đồng) án phí DSST, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí DSST, được hoàn trả 33.286.000 đồng (Ba mươi ba triệu hai trăm tám mươi sáu nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004087 ngày 25/12/2023 và số 0004313 ngày 22/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4/ Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 98/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Thị Thu H1
