|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 98/2024/DS-ST Ngày: 07/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Chiểu
- Bà Võ Tuyết Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2022/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124B/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X. Địa chỉ: số G, Lê Thánh T & D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Tấn L. Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Quốc K. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh B.
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Quách Minh H. Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh B. Địa chỉ: số D, đường T, phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1961. Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969. Cùng địa chỉ: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Ông Phan Văn N1, sinh năm 1977 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1977. Cùng địa chỉ: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 10 năm 2022 và lời khai có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Quách Minh H trình bày:
Vào ngày 24/3/2017, bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn Đ có ký Hợp đồng tín dụng số 1504-LAV-201700215 với Ngân hàng Thương mại cổ phần X – Chi nhánh B để vay số tiền 80.000.000 đồng với mục đích mua sắm trang thiết bị nhà cửa, vật dụng trong gia đình, kỳ hạn vay 96 tháng, kể từ ngày 27/3/2017 đến ngày 27/3/2025, lãi suất vay 11%/năm trên cơ sở một năm là 360 ngày (tương đương 22,15%/năm trên cơ sở một năm 365 ngày), cố định trong một năm đầu, từ năm thứ 02 trở đi bằng lãi suất tiết kiệm 24 tháng (lãi cuối kỳ) + 3,5%/năm, chu kỳ thay đổi lãi sất 01 tháng/lần, nợ gốc được trả thành nhiều kỳ là 3.333.333 đồng. Kỳ đầu tiên trả nợ gốc là ngày 27/9/2017, kỳ trả nợ cuối cùng là ngày 27/3/2025, kỳ hạn trả lãi vào ngày 27 hàng tháng. Lãi suất trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Để đảm bảo nghĩa vụ cho hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Đ và bà S đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 100/EIBBL-KHCN/TCTS/2017 ngày 24/3/2017 với Ngân hàng TMCP X để thế chấp quyền sử dụng đất phần đất diện tích 6.520,9m² đất trồng lúa thuộc thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 108075 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 31/7/2009, cặp nhật biến động ngày 18/7/2016 và 30/8/2016.
Đồng thời, ngày 18/9/2018, bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn Đ có ký Hợp đồng tín dụng số LAV180012593/104 với Ngân hàng Thương mại cổ phần X – Chi nhánh B để vay số tiền 80.000.000 đồng với mục đích mua sắm trang thiết bị nhà cửa và vật dụng trong gia đình, thời hạn vay 88 tháng, kể từ ngày 27/01/2019, kỳ trả nợ cuối cùng là ngày 19/01/2026, lãi suất vay 11%/năm trên cơ sở một năm là 360 ngày (tương đương 22,15%/năm trên cơ sở một năm 365 ngày), cố định trong một năm đầu, từ năm thứ 02 trở đi bằng lãi suất tiết kiệm 24 tháng (lãi cuối kỳ) + 3%/năm, chu kỳ thay đổi lãi sất 01 tháng/lần, nợ gốc được trả thành nhiều kỳ, mỗi kỳ cách nhau 04 tháng, số tiền được trả mỗi kỳ là 3.640.000 đồng. Kỳ đầu tiên trả nợ gốc là ngày 27/01/2019, kỳ trả nợ cuối cùng là ngày 19/01/2026, kỳ hạn trả lãi vào ngày 27 hàng tháng. Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả là 10%/năm. Lãi suất trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Để đảm bảo nghĩa vụ cho hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Đ và bà S đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 281/EIBBL-KHCN/TCTS/2018 ngày 18/9/2018 với Ngân hàng Thương mại cổ phần X – Chi nhánh B để thế chấp quyền sử dụng đất phần đất diện tích 4.319,8m² đất chuyên trồng lúa nước thuộc thửa đất số 1358, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do ông Lê Văn Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN602538 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 17/5/2018.
Từ khi vay đến ngày 21/9/2022 thì ông Đ và bà S đã thanh toán được tiền gốc 69.119.996 đồng và tiền lãi 52.657.067 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X. Ngân hàng đã làm việc nhiều lần và tạo điều kiện để bà S và ông Đ có kế hoạch trả nợ theo cam kết, tuy nhiên sau đó đều không thực hiện được, bà S và ông Đ đã vi phạm điều khoản trong hợp đồng vay vốn.
Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 21/9/2022 là 104.584.521 đồng (trong đó tiền gốc là 90.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 6.537.288 đồng, tiền lãi quá hạn là 7.167.229 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục cho đến khi bà S và ông Đ trả xong nợ theo lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trong trường hợp bà S và anh Đ không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì đề nghị Tòa án kê biên phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X.
* Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà và ông Đ có vay và nợ tiền Ngân hàng Thương mại cổ phần X, bà đồng ý trả nợ vay theo yêu cầu của Ngân hàng. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp Ngân hàng, bà không đồng ý.
* Bị đơn ông Lê Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
* Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị N trình bày: Ông, bà nhận cố đất của ông S, bà Đ khoảng 03 năm nay, diện tích đất cố khoảng 6.000m², thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 5, khi cố ông bà không biết đất này ông Đ và bà S đã thế chấp Ngân hàng, hiện tại đất này ông, bà đang quản lý, canh tác. Nay Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, ông bà sẽ tự thoả thuận với bà S nên không có yêu cầu gì trong vụ án này.
* Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn N1 và bà Lê Thị T2 trình bày: Ông, bà nhận cố đất của ông Đ, bà S khoảng 03 - 04 năm nay, diện tích đất cố khoảng 4.319,8m², thửa đất số 1358, tờ bản đồ số 5, khi cố ông bà không biết đất này ông Đ và bà S đã thế chấp Ngân hàng, hiện tại đất này ông, bà đang quản lý, canh tác. Nay Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, ông bà sẽ tự thoả thuận với ông Đ và bà S, không yêu câu giải quyết hợp đồng cầm cố đối với ông Đ và bà S trong vụ án này.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần X. Buộc bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 21/09/2022 là: 104.584.521 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục cho đến khi bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn Đ trả xong nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tin dụng đã ký.
Trường hợp bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn Đ không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để xử lý,
Buộc ông T1, bà N phải có nghĩa vụ giao lại phần đất diện tích: 6.520,9m thửa đất số: 1148, tờ bản đồ số 5 (có tứ cạnh) và buộc ông N1 bà T2 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 4.319,8m, thửa đất số 1358, tờ bản đồ số 5 (có tứ cạnh) cho ông Đ và bà S khi Ngân hàng có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
Đối với Hợp đồng cố đất giữa ông Đ bà S với ông T1, bà N và ông N1, bà T2. Do các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên căn cứ Điều 5 BLTTDS không đặt ra xem xét giải quyết. Trường hợp sau này đương sự có khởi kiện sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác,
Án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng X khởi kiện yêu cầu ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S trả số tiền vay còn nợ, đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, ông Đ và bà S đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Ông Đ, bà S, ông T1, bà N, ông N1 và bà T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, ông H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt ông H, ông S, bà Đ, ông T1, bà N, ông N1 và chị T2 là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung khởi kiện: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 1504-LAV-201700215 ngày 24/3/2017; Hợp đồng tín dụng số LAV180012593/1504 ngày 18/9/2018 xác định ông Đ và bà S có vay của Ngân hàng số tiên 160.000.000 đồng. Khi thực hiện hợp đồng, ông Đ và bà S không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký kết. Hiện tại, ông Đ và bà S còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 21/09/2022 là: 104.584.521 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục cho đến khi bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn Đ trả xong nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Xét thấy, quá trình tố tụng tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng để thông báo cho ông Đ, bà S biết về việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông bà trả khoản tiền nêu trên. Tuy nhiên, ông Đ và bà S ký nhận các văn bản nhưng không có ý kiến gì phản hồi việc ngân hàng yêu cầu trả nợ. Đồng thời, tại biên bản ghi lời khai bà S ngày 29/8/2024 bà S xác định có vay và nợ tiền ngân hàng. Từ đó, cho thấy ông Đ và bà S thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng. Căn cứ Điều 92 BLTTDS, đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh. Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần X yêu cầu bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 21/09/2022 là: 104.584.521 đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục cho đến khi bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn Đ trả xong nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ để chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho các khoản vay, giữa Ngân hàng với ông Đ và bà S đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 100/EIBBL-KHCN/TCTS/2017 ngày 24/3/2019; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 100/EIBBL-KHCN/TCTS/2018 ngày 18//2018. Tài sản thế chấp gồm: Thửa đất số: 1148, tờ bản đồ số: 5, diện tích: 6.520,9m, đất toạ lạc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Quyền sử dụng đất số AO 108075, vào sổ số H02079 do UBND huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 31/07/2009; cập nhật biến động ngày 18/07/2016 và 30/08/2016 do ông Đ và bà S đứng tên. Thửa đất số: 1358, tờ bản đồ số: 5, diện tích: 4.319,8m, địa chỉ thửa đất: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Giấy chứng nhận quyền sử dụng quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN602538, vào sổ số CH05387 do UBND huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 17/05/2018 do ông Đ đứng tên.
[4.1] Xét thấy, việc thế chấp này có chứng thực và đăng ký thế chấp hợp pháp theo quy định nên hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành. Nay Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp ông Đ và bà S không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Đối với thửa đất số: 1148, tờ bản đồ số: 5, diện tích: 6.520,9m'; Thửa đất số: 1358, tờ bản đồ số: 5, diện tích: 4.319,8m2, đất toạ lạc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Qua biên bản xem xét, thẩm định ngày 11/01/2023 xác định phần đất diện tích: 6.520,9m thửa đất số: 1148, tờ bản đồ số 5 do ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất có số đo và vị trí như sau:
- Phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị S có cạnh dài 134,8m;
- Phía Bắc giáp đất bà Phan Thị Đ1 cạnh dài 71,7m + 60,2m.
- Phía Tây + 24,7m giáp đất bà Nguyễn Thị S cạnh dài 24,9m + 16,8m + 8,0m.
- Phía Đông giáp đất ông Lê Văn N2 cạnh dài 24,3m + 24,7m.
Hiện đất do ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị N đang quản lý, sử dụng.
Phần đất diện tích 4.319,8m, thửa đất số 1358, tờ bản đồ số 5 do ông Lê Văn Đ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất có số đo và vị trí như sau:
- Phía Nam giáp đất ông Phan Văn N1 có cạnh dài 90,50m;
- Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị S cạnh dài 13,22m + 77,78m.
- Phía Tây giáp đất ông Lê Văn N3 cạnh dài 47,87m
- Phía Đông giáp đất ông Lê Văn N3 cạnh dài 47,92m.
Hiện đất do ông Phan Văn N1 và bà Lê Thị T2 đang quản lý, sử dụng.
[4.3] Xét thấy, quá trình làm việc ông T1 bà N, ông N1, bà T2 và bà S đều khai nhận vợ chồng bà S, ông Đ có cố cho vợ chồng ông T1, bà N và ông N1, bà T2 hai phần đất trên. Vợ chồng ông T1, bà N và ông N1, bà T2 không biết đất này đã thế chấp ngân hàng. Trường hợp Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp đối với phần đất này thì vợ ông T1, bà N và ông N1, bà T2 sẽ tự thỏa thuận với vợ chồng ông Đ, bà S không yêu cầu giải quyết hợp đồng cố đất giữa vợ chồng ông với vợ chồng bà S.
[4.4] Do đó, buộc ông T1, bà N phải có nghĩa vụ giao lại phần đất diện tích: 6.520,9m thửa đất số: 1148, tờ bản đồ số: 5 (có tứ cạnh) và buộc ông N1, bà T2 có nghĩa vụ giao phần đất diện tích 4.319,8m, thửa đất số 1358, tờ bản đồ số 5 (có tứ cạnh) cho ông Đ và bà S khi Ngân hàng có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
[5] Đối với Hợp đồng cố đất giữa ông Đ, bà S với ông T1 bà N và ông N1 bà T2. Do các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên căn cứ Điều 5 BLTTDS không đặt ra xem xét giải quyết. Trường hợp sau này đương sự có khởi kiện sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và trích đo địa chính thửa đất là 5.805.435 đồng, ông Đ và bà S phải chịu. Ngân hàng TMCP X đã dự nộp số tiền 6.000.000 đồng theo Phiếu thu số 113/2022/TB-TĐ ngày 01/12/2022, đã chi số tiền 5.805.435 đồng, Ngân hàng TMCP X đã nhận lại đủ số tiền 194.565 đồng. Buộc ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S cùng có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng TMCP X số tiền 5.805.435 đồng.
[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Ông Đ và bà S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Các đương sự khác không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5, 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 299, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần X đối với ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S.
Buộc ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền tính đến ngày 21/9/2022 là là 104.584.521 đồng, trong đó tiền gốc 90.880.004 đồng, tiền lãi trong hạn là 6.537.288 đồng, tiền lãi quá hạn là 7.167.229 đồng và kể từ ngày 22/9/2022 ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi ông Đ và bà S trả xong nợ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
- Trong trường hợp ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ số tiền còn nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là phần đất diện tích 6.520,9m² đất trồng lúa nước thuộc thửa đất số 1148, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo hợp thế chấp quyền sử dụng đất số 100/EIBBL-KHCN/TCTS/2017 ngày 24/3/2017 và phần đất diện tích 4.319,8m² đất chuyên trồng lúa nước thuộc thửa đất số 1358, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu do ông Lê Văn Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo hợp thế chấp quyền sử dụng đất số 281/EIBBL-KHCN/TCTS/2018 ngày 18/9/2018 để thu hồi nợ.
- Đối với hợp đồng cố đất giữa ông Đ và bà S với ông T1, bà N và ông N1, bà T2. Do các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên căn cứ Điều 5 BLTTDS không đặt ra xem xét, giải quyết. Trường hợp sau này đương sự có khởi kiện sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
- Buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ giao lại phần đất diện tích 6.520,9m² thửa đất số: 1148, tờ bản đồ số: 5, đất toạ lạc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S khi Ngân hàng có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, có số đo và vị trí như sau:
- Phía Nam giáp đất bà Nguyễn Thị S có cạnh dài 134,8m;
- Phía Bắc giáp đất bà Phan Thị Đ1 cạnh dài 71,7m + 60,2m.
- Phía Tây + 24,7m giáp đất bà Nguyễn Thị S cạnh dài 24,9m + 16,8m + 8,0m.
- Phía Đông giáp đất ông Lê Văn N2 cạnh dài 24,3m + 24,7m.
- Buộc ông Phan Văn N1 và bà Lê Thị T2 phải có nghĩa vụ giao lại phần đất diện tích 4.319,8m² thửa đất số: 1358, tờ bản đồ số: 5, đất toạ lạc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cho ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S khi Ngân hàng có yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, có số đo và vị trí như sau:
- Phía Nam giáp đất ông Phan Văn N1 có cạnh dài 90,50m;
- Phía Bắc giáp đất bà Nguyễn Thị S cạnh dài 13,22m + 77,78m.
- Phía Tây giáp đất ông Lê Văn N3 cạnh dài 47,87m
- Phía Đông giáp đất ông Lê Văn N3 cạnh dài 47,92m.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và trích đo địa chính thửa đất là 5.805.435 đồng, ông Đ và bà S phải chịu. Ngân hàng Thương mại cổ phần X đã dự nộp số tiền 6.000.000 đồng theo Phiếu thu số 113/2022/TB-TĐ ngày 01/12/2022, đã chi số tiền 5.805.435 đồng, Ngân hàng TMCP X đã được nhận lại đủ số tiền 194.565 đồng. Buộc ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S cùng có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X số tiền 5.805.435 đồng.
- Về án phí: Ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.229.000 đồng. Các đương sự khác không phải chịu án phí. Ngân hàng Thương mại cổ phần X đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 2.615.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005487 ngày 02/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được nhận lại.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đẹp |
Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 98/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
