Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2023/DS-PT

Ngày 19 – 12 - 2023

“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà
Các Thẩm phán Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Ông Lưu Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Đoàn Thanh Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 86/2023/TLPT-DS ngày 9 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS -ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 20/2023/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự :

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn T; địa chỉ: Tổ G, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Hồ Sư C; địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  3. Người kháng cáo: Bị đơn là ông Hồ Sư C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Nguyên đơn là ông Lê Văn T trình bày:

    Ngày 30/9/2022, ông Hồ Sư C vay của ông 200.000.000 đồng, thỏa thuận thời hạn trả nợ là 03 ngày. Việc cho vay được lập thành “Giấy vay tiền”. Việc cho vay có thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng nhưng không thể hiện cụ thể trong Giấy vay tiền.

    Đến ngày 14/10/2022, ông C tiếp tục vay của ông 50.000.000 đồng, thỏa thuận thời hạn trả nợ là 02 ngày. Việc cho vay được lập thành “Giấy vay tiền”. Việc cho vay có thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng nhưng không thể hiện cụ thể trong Giấy vay tiền.

    Từ khi vay đến nay, ông C chưa trả cho ông khoản tiền nào.

    Ông yêu cầu ông C có nghĩa vụ trả cho ông các khoản sau:

    Căn cứ Giấy vay tiền ngày 30/9/2022, ông Yêu cầu ông C trả 200.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật;

    Căn cứ Giấy vay tiền ngày 14/10/2022, ông Yêu cầu ông C trả 50.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật.

  2. Bị đơn là ông Hồ Sư C trình bày:

    Ông có quen biết với ông Lê Văn T. Trong thời gian từ năm 2021, 2022 ông nhiều lần vay tiền của ông T.

    Quá trình vay tiền và trả nợ vay giữa ông và ông T đều thực hiện băng hình thức chuyển khoản. Mỗi lần vay tiền, ông T chuyển tiền vào tài khoản của ông và ông dùng số tiền này trả cho Ngân hàng. Sau khi Ngân hàng cho vay lại thì ông sẽ chuyển khoản trả tiền cho ông T. Những lần vay trước thì ông đã trả nợ cho ông T đầy dủ.

    Ông thừa nhận vào ngày 30/9/2022, ông có vay của ông T 200.000.000 đồng. Khi vay có lập “Giấy vay tiền”, thỏa thuận thời hạn trả nợ là 03 ngày, không thỏa thuận lãi suất. Sau đó, đến ngày 14/10/2022, ông vay tiếp của ông T 50.000.000 đồng. Khi vay có lập "Giấy vay tiền”, thỏa thuận thời hạn trả nợ là 02 ngày. Đây là 02 lần vay cuối cùng, sau 02 lần vay này ông không vay thêm ông T số tiền nào nữa.

    Đối với số tiền vay của 02 lần vay này thì ông chưa trả cho ông T. Vì trước đây nhiều lần giữa ông và ông T chuyển tiền qua lại cho nhau, số tiền mà ông T chuyển khoản cho ông ít hơn số tiền ông chuyển khoản cho ông T. Sau khi trừ đi số tiền 250.000.000 đồng của 02 khoản vay ngày 30/9/2022 và ngày 14/10/2022 thì ông T còn nợ ông 95.095.000 đồng.

    Do vậy, ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  3. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS -ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
    • Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 144, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ1114 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
    • Tuyên xử:
      • - Căn cứ Giấy vay tiền ngày 30/9/2022, buộc ông Hồ Sư C trả cho ông Lê Văn T 200.000.000 đồng nợ gốc và nợ lãi chậm thanh toán với mức 0,83%/tháng, tính từ ngày 04/10/2022 dến ngày xét xử sơ thẩm (9 tháng, 25 ngày) là 16.323.333 dồng;
      • - Căn cứ Giấy vay tiền ngày 14/10/2022, buộc ông Hồ Sư C trả cho ông Lê Văn T 50.000.000 đồng nợ gốc và nợ lãi chậm thanh toán với mức 0,83%/tháng, tính từ ngày 17/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (9 tháng, 12 ngày) là: 3.901.000 đồng.

    Tổng cộng: 270.224.333 đồng

    Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10-8-2023 Bị đơn là ông Hồ Sư C kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.

8.Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định về việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu kháng cáo như sau:

  1. Về nợ gốc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 250.000.000 đồng để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn cung cấp cho Tòa án giấy vay tiền ngày 30/9/2022 với số tiền vay là 200.000.000 đồng và giấy vay tiền ngày 14-10-2022 với số tiền vay là 50.000.000 đồng. Bị đơn thừa nhận có vay của nguyên đơn 250.000.000 đồng theo hai giấy vay mà nguyên đơn cung cấp. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là sự việc, tình tiết không phải chứng minh.

    Ông C kháng cáo cho rằng trước đó ngày 17-5-2022 ông có chuyển cho ông T 590.000.000 đồng vào tài khoản đề nghị cấn trừ số tiền nêu trên vào tiền nợ và buộc ông T trả lại cho ông 95.950.000 đồng. Thấy rằng, ông C đưa ra yêu cầu nhưng lại không làm đơn để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục cần thiết để thụ lý yêu cầu của mình. Hơn nữa, yêu cầu nêu trên của ông C đưa ra tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Căn cứ khoản 3 Điều 200 của bộ luật tố tụng dân sự quy định, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.

    Đối chiếu với quy định viện dẫn trên thì yêu cầu nêu trên của ông C đưa ra khi Tòa án tiến hành hòa giải, công khai chứng cứ là không bảo đảm điều kiện về thời điểm đưa ra yêu cầu.

    Vì vậy, nếu yêu cầu của ông C đưa ra là yêu cầu phản tố thì vẫn không đảm bảo thủ tục để thụ lý và giải quyết.

    Ông C kháng cáo cho rằng, cùng là cung cấp bản sao kê của ngân hàng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét, đánh giá bản sao kê do ông T cung cấp mà không xem xét đánh giá bản sao kê mà ông cung cấp là thiếu khách quan. Thấy rằng, ông T khởi kiện ông trả 250.000.000 đồng tiền gốc và lãi là căn cứ vào hai giấy vay ngày 30/9/2022 và 14-10-2022 còn bản sao kê do ông T cung cấp chỉ là tài liệu bổ sung thể hiện ông T đã giao tiền cho ông. Ông yêu cầu buộc ông T phải trả cho ông 95.950.000 đồng nhưng chỉ cung cấp bản sao kê mà không có tài liệu, chứng cứ khác thể hiện ông T có vay tiền của ông.

    Hơn nữa, cả ông và ông T đều khẳng định những lần vay trước đây ông đã trả tiền đầy đủ cho ông T và những lần ông chuyển khoản cho ông T đều được thực hiện trước ngày 30/9/2022. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C cũng khẳng định khoản tiền 590.000.000 đồng ông C chuyển cho ông T trước ngày ghi trong giấy vay tiền. Do đó, không có căn cứ để nhận định số tiền chênh lệch trong các giao dịch chuyển khoản qua lại giữa ông T và ông C thể hiện trong các bản sao kê là chứng cứ ông T nợ tiền ông.

  2. Về tính hợp pháp của hai giấy vay tiền:
    1. Về hình thức: Mục 4 chương XVI về một số hợp đồng thông dụng của Bộ luật dân sự không quy định hợp đồng vay tài sản phải có công chứng chứng chứng thực vì vậy hai “giấy vay tiền” do ông T cung cấp đảm bảo quy định về hình thức.
    2. Về nội dung: Hợp đồng vay thể hiện rõ tên địa chỉ của người cho vay và người vay. Địa điêm cho vay, thời hạn vay, ông C thừa nhận chữ ký, chữ viết “Hồ Sư C” bên dưới giây vay là của ông. Tại thời điểm vay tiền ông C là người có đủ nằng lực hành vi dân sự, ông không bị ai ép buộc phải ký tên vào giấy vay. Hợp đồng vay giữa hai bên là tự nguyện không vi phạm quy định của pháp luật, trái đao đức xã hội nên hợp đồng nêu trên thỏa mãn các điều kiện về mặt nội dung.

      Do đó, việc ông C cho rằng Hợp đồng vay tiền nêu trên vi phạm pháp luật vì ông chỉ ký khống các giấy vay cho ông T. Vì ông bận công việc, ông ký khống trước giấy vay cho ông T để thuận lợi cho việc đáo hạn. Lời khai trên của ông C là không có căn cứ vì ông C là người có nhận thức, công việc kinh doanh hiểu rất rõ về nghĩa vụ của việc ký vào các giấy vay.

  3. Từ những nhận định nêu trên xét thấy kháng cáo của bị đơn là ông Hồ Sư C là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Hồ Sư C giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2023/DS -ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai
    • - Áp dụng Điều 357, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015
    • 1.1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T.

      Buộc ông Hồ Sư C trả cho ông Lê Văn T các khoản sau:

      • - Căn cứ Giấy vay tiền ngày 30/9/2022, buộc ông Hồ Sư C trả cho ông Lê Văn T 200.000.000 đồng nợ gốc và nợ lãi chậm thanh toán với mức 0,83%/tháng, tính từ ngày 04/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (9 tháng, 25 ngày) là 16.323.333 đồng;
      • - Căn cứ Giấy vay tiền ngày 14/10/2022, buộc ông Hồ Sư C trả cho ông Lê Văn T 50.000.000 đồng nợ gốc và nợ lãi chậm thanh toán với mức 0,83%/tháng, tính từ ngày 17/10/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (9 tháng, 12 ngày) là: 3.901.000 đồng.

      Tổng cộng: 270.224.333 đồng.

      Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    • 1.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Buộc ông Hồ Sư C chịu 13.511.217 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
      • - Ông Lê Văn T không phải chịu án phí. Trả lại cho ông T 6.887.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005755 ngày 03/4/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Hồ Sư C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005577 ngày 28-8-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Ông Hồ Sư C đã nộp đủ.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy dịnh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND huyện Đức Cơ;
  • - VKSND huyện Đức Cơ;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Đức Cơ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2023/DS-PT ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 98/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản thông qua chuyển khoản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger