|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày: 19 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí Lin.
Bà Nguyễn Thị Rạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2024 QĐ-HPT ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 18/10/1987, tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số A, ấp A, xã P, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1948 và bà Trần Thị B sinh năm 1948; bị cáo có chồng Huỳnh Văn N sinh năm 1985 (đã ly hôn) và có 02 con chung sinh năm 2007 và sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Hiện nay, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 29/6/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh trong một vụ án khác, bị cáo có mặt.
Bị hại: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam.
Tạm trú: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
2
- Ông Nguyễn Thành C, sinh năm 1986 (đã chết theo Trích lục khai tử số 170/2024/TLKT-BS ngày 02/4/2024 của UBND xã Đ).
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. - Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường số I, tổ B, khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. - Bà Đinh Thị Thanh N1, sinh năm 1975 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số F, đường số B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. - Ông Nguyễn Lê H1, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. - Văn phòng công chứng Nguyễn Lê H1. (xin vắng mặt)
Địa chỉ trụ sở: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Lê H1 - Trưởng Văn Phòng.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Nguyễn Phi N2 sinh năm 1994. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/10/2019, bà Huỳnh Thị Ngọc M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698, đối với thửa đất số 2063, tờ bản đồ số 3, diện tích 120m² tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Sau đó, bà M ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên cho ông Nguyễn Hoàng K. Ngày 09/6/2022, ông K làm thủ tục chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CT 169698.
Ngày 24/9/2022, ông K ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên cho bà Đinh Thị Thanh N1, được Văn phòng C1, giá trị chuyển nhượng thửa đất là 650.000.000 đồng nhưng trên hợp đồng ghi nhận 100.000.000 đồng do bà N1 trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế. Bà N1 giữ bản chính Giấy chứng nhận thửa đất số CT 169698 và Hợp đồng số 7752.
Khoảng tháng 10 năm 2022, bà N1 ký hợp đồng ủy quyền số 2630 cho Nguyễn Thị Thu H để thuê H làm thủ tục chỉnh lý biến động quyền sử dụng thửa đất số 2063 thành tên bà N1 với giá 10.000.000 đồng thời giao cho H giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CT 169698 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 7752.
3
Lúc này, do không có tiền tiêu xài nên H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z 5G, sim điện thoại số 0939.160.xxx lên mạng xã hội Facebook tìm và kết bạn với tài khoản Z tên “T” không xác định được nhân thân, lai lịch. H đặt người người này làm giả Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 7752, bằng cách thay tên của bà Đinh Thị Thanh N1 trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7752 thành tên của Nguyễn Thị Thu H, giá tiền công là 3.000.000 đồng, H nhận được Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7752 giả tại Bưu điện Đ1, H trả 3.000.000 đồng cho nhân viên giao hàng. Sau đó, H mang hợp đồng này về nhà, ký tên, viết tên và lăn dấu vân tay của H vào vị trí “Bên B” người nhận chuyển nhượng trên hợp đồng vừa nhận và tìm người để chuyển nhượng thửa đất trên, lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Do cùng kinh doanh bất động sản nên H quen biết với Nguyễn Văn T và bạn T tên Nguyễn Thành C. Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 15/01/2023, C và T gặp H tại quán C2 tại Khu phố C, thị trấn Đ. Trong lúc nói chuyện, H đưa cho T xem bản chính của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 (H nhận qua đường bưu điện), nội dung của hợp đồng này thể hiện: Ông Nguyễn Hoàng K chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 2063 cho Nguyễn Thị Thu H. H nói với T giá trị thực tế mà H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên là 600.000.000 đồng nhưng do H đang cần tiền nên muốn chuyển nhượng lại quyền sử dụng thửa đất này với giá 380.000.000 đồng. Thêm tin tưởng, đồng ý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 2063 của H với giá 380.000.000 đồng. Giữa T và H thỏa thuận hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:
- Trong thời hạn 03 tháng khi nhận đủ tiền, H phải đến Văn phòng công chứng làm thủ tục hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng 7752 giữa ông K và H, đồng thời làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 2063 từ K cho T.
- Trường hợp nếu K không đồng ý cách làm trên thì H phải làm thủ tục chỉnh lý biến động quyền sử dụng thửa đất số 2063 thành tên của H, sau đó H ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất này sang cho T.
H và T ký tên, lăn tay vào giấy đặt cọc, trong đó H là người nhận tiền cọc, T là người giao tiền cọc. Sau đó, C chuyển số tiền 150.000.000 đồng từ số tài khoản 100949049459 của C mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V vào số tài khoản 060159832123 của H mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, chi nhánh huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tiền của T, C chỉ chuyển khoản giúp T. H giao cho T giữ bản chính của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng 7752 và bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698.
Từ ngày 15/01/2023 đến ngày 16/4/2023, T đã chuyển khoản số tiền 280.000.000 đồng cho H (bao gồm 270.000.000 đồng thông qua hình thức chuyển khoản và 10.000.000 đồng tiền mặt) để thanh toán tiền nhận chuyển
4
nhượng thửa đất số 2063. Sau đó, đến ngày 22/5/2023, sau nhiều lần hối thúc H làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 2063 cho T không được, T đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do H giao vào ngày 15/01/2023 đến Văn phòng công chứng Nguyễn Lê H1 kiểm tra thì được biết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7752 là giả. Lúc này, T biết T bị lừa nên gọi điện thoại cho H, nói dối rằng Thêm đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 2063 cho người khác, yêu cầu H đến Văn phòng công chứng Nguyễn Lê H1 để làm thủ tục hủy hợp đồng chuyển nhượng số 7752 đã ký với ông K trước đó. H yêu cầu T chuyển khoản số tiền 30.000.000 đồng cho H mượn để trả nợ thì mới về được, T đồng ý. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/5/2023, H đến Văn phòng công chứng Nguyễn Lê H1, tại đây H thừa nhận đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 280.000.000 đồng của T. Đến ngày 04/6/2023, Nguyễn Văn T làm đơn tố giác hành vi chiếm đoạt tài sản của H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ.
Vật chứng tạm giữ:
01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698 (bản chính); 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7752 (bản chính), quyển số 09 ngày 24/9/2022 và 01 hợp đồng đặt cọc đề ngày 15/01/2023 của ông Nguyễn Văn T.
01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7752, quyển số 09 ngày 24/9/2022 (bản chính) do ông Nguyễn Lê H1 (Công chứng viên, đại diện Văn phòng C1) cung cấp.
Trong quá trình điều tra xác định, Nguyễn Thị Thu H còn thực hiện hành vi phạm tội trên địa phận Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể: Ngày 27/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự. Sau đó, vụ án được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Tại Văn bản số 370/CV-BĐĐH ngày 05/9/2023 của Bưu điện huyện Đ1 xác định kể từ tháng 01/2022 đến ngày 05/9/2023 Bưu điện huyện Đ1 không tìm thấy người nhận bưu phẩm nào có thông tin “Nguyễn Thị Thu H, Bưu điện H2, số điện thoại 0939.160.xxx".
Tại Văn bản số 31/CV-VPCC ngày 19/7/2023 của Văn phòng C1 xác định không công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7752 từ ông Nguyễn Hoàng K cho bà Nguyễn Thị Thu H đối với thửa đất số 2063 đồng thời Văn phòng này xác định ngày 24/9/2022 có công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 2063 từ ông Nguyễn Hoàng K cho bà Đinh Thị Thanh N1, số công chứng là 7752.
5
Tại Bản kết luận giám định số 773/KL-KTHS ngày 17/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Chữ ký và chữ viết tên Nguyễn Thị Thu H trên hợp đồng công chứng số 7752 (do ông T giao nộp) và chữ ký, chữ viết thu thập được của Nguyễn Thị Thu H là do cùng một người ký và viết ra, là do Nguyễn Thị Thu H ký và viết ra; Chữ ký và chữ viết của Nguyễn Hoàng K trên hợp đồng công chứng số 7752 (do ông T giao nộp) và chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Hoàng K trên hợp đồng công chứng số 7752 (do Văn phòng C1 Nguyễn Lê H1 cung cấp) không phải do cùng một người ký và viết ra; Chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Lê H1 trên hợp đồng công chứng số 7752 (do Văn phòng công chứng Nguyễn Lê H1 cung cấp) và chữ ký, chữ viết thu thập được của công chứng viên Nguyễn Lê H1 không phải do cùng một người ký và viết ra; Hình dấu của Văn phòng C1 trên hợp đồng công chứng số 7752 (do Nguyễn Văn T giao nộp) là hình dấu sao in.
Tại Bản kết luận giám định số 6130/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Dấu vân tay ghi tên Nguyễn Thị Thu H trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 7752 (do Nguyễn Văn T giao nộp) với dấu vân tay thu thập được của Nguyễn Thị Thu H vào ngày 18/8/2023 là dấu vân tay của cùng một người, là dấu vân tay của Nguyễn Thị Thu H in ra.
Tại Bản kết luận số 982/KL-KTHS ngày 10/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Chữ viết và chữ ký tên Nguyễn Thị Thu H trên hợp đồng đặt cọc ngày 15/01/2023 (do Nguyễn Văn T giao nộp) và mẫu chữ viết, chữ ký thu thập được của Nguyễn Thị Thu H ngày 07/6/2023 là do cùng một người ký và viết ra, là của Nguyễn Thị Thu H ký và viết ra.
Tại Bản kết luận giám định số 6906/KL-KTHS ngày 08/11/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Dấu vân tay dưới mục ghi “Đại diện bên A” ghi tên “Nguyễn Thị Thu H” trên hợp đồng đặt cọc đề ngày 15/01/2023 với mẫu vân tay thu thập được của Nguyễn Thị Thu H là dấu vân tay của cùng một người, là dấu vân tay của Nguyễn Thị Thu H.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSĐH ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông xác định diễn biến sự việc và hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng nêu. Bị cáo H đã bồi thường cho ông được số tiền 50.000.000 đồng. Nay ông yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Thu H hoàn trả lại cho ông số tiền đã chiếm đoạt còn lại là 230.000.000 đồng.
6
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Thanh N1 có đơn xin vắng mặt và yêu cầu được nhận lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698 (bản chính). Ngoài ra bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo H trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lê H1 và Văn phòng công chứng Nguyễn Lê H1 có đơn xin vắng mặt và lời trình bày không có yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Nguyễn Thị Thu H gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu hình phạt chung của hai tội.
Về trách nhiệm dân sự:
- Đề nghị áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H trả lại cho bị hại ông Nguyễn Văn T số tiền 230.000.000đồng.
Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bà Đinh Thị Thanh N1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698 (bản chính);
- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z 5G, sim điện thoại số 0939.160.xxx Nguyễn Thị Thu H sử dụng làm phương tiện để liên lạc thuê và nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng 7752 giả, hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý trong một vụ án khác, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7752, quyển số 09 ngày 24/9/2022 (bản chính) cho ông Nguyễn Lê H1 – đại diện Văn phòng C1, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người được Nguyễn Thị Thu H thuê để làm giả Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7752 không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, chỉ có lời khai duy nhất của H nên không có căn cứ xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Thành C đã chết theo Trích lục khai tử số 170/2024/TLKT-BS ngày 02/4/2024 của UBND xã Đ, thấy rằng, ông C đã có lời khai và lời trình bày không có yêu cầu gì trong vụ án tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C, việc giải quyết vụ án về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng cũng không có liên quan đến ông C. Do đó, HĐXX xét thấy không cần thiết đưa những người thừa kế theo pháp luật của ông C vào tham gia tố tụng trong vụ án.
[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu H trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản xác định vật chứng, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng với Bản kết luận giám định số 773 ngày 17/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L, Bản kết luận giám định số 6130 ngày 29/9/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bản kết luận giám định số 982 ngày 10/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L, Bản kết luận giám định số 6906 ngày 08/11/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và phù hợp với nội dung bản Cáo trạng.
Thấy rằng, khoảng tháng 10 năm 2022 thông qua văn bản ủy quyền giữa bà Đinh Thị Thanh N1 và Nguyễn Thị Thu H, H có được bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CT 169698 và bản chính Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 7752 đối với thửa đất số 2063, tờ bản đồ số 3, diện tích 120m² tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An giữa bà N1 và ông Nguyễn Hoàng K để làm thủ tục chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất cho bà N1. Sau đó, H thuê người làm giả Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
8
đất số 7752, theo đó Nguyễn Thị Thu H là người được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 2063 từ ông Nguyễn Hoàng K.
Khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 15/01/2023, tại khu phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Nguyễn Thị Thu H dùng thủ đoạn gian dối là sử dụng hợp đồng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả, có số công chứng 7752 nêu trên cùng với bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698 để tạo lòng tin cho Nguyễn Văn T, làm Thêm tin tưởng H có quyền sử dụng thửa đất số 2063, tờ bản đồ số 3, diện tích 120m² tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An để Thêm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 2063 trên với giá 380.000.000 đồng. H đã chiếm đoạt của ông T tổng cộng 280.000.000 đồng thì T phát hiện ra sự việc và tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ yêu cầu xử lý hành vi của Nguyễn Thị Thu H.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn T số tiền 280.000.000 đồng mà bị cáo H gây ra là nguy hiểm. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo H không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.
Hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, tạo điều kiện để người khác đi vào con đường phạm tội.
Khi thực hiện các hành vi phạm tội trên, bị cáo H có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội không có tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
9
Tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thu H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, đồng thời bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Từ phân tích [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H đối với từng tội danh là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bà Đinh Thị Thanh N1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698 (bản chính);
- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 7 Z 5G, sim điện thoại số 0939.160.xxx Nguyễn Thị Thu H sử dụng làm phương tiện để liên lạc thuê và nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng 7752 giả, hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý trong một vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 7752, quyển số 09 ngày 24/9/2022 (bản chính) cho ông Nguyễn Lê H1 – Đại diện Văn phòng Công chứng Nguyễn Lê H1 là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa bị hại Ông Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo H hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt còn lại chưa trả là 230.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn T số tiền 230.000.000 đồng là phù hợp theo Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Đối với giao dịch dân sự giữa bị cáo H với bà Đinh Thị Thanh N1 liên quan đến Giấy ủy quyền giữa bà N1 và bị cáo H, phần dân sự này cần tách ra để xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự, khi đương sự có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, thì giải quyết đầy đủ, toàn diện các quan hệ pháp luật tranh chấp có liên quan, nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[7]. Đối với người được Nguyễn Thị Thu H thuê để làm giả Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 7752 không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, chỉ có lời khai duy nhất của H nên không có căn cứ xử lý.
[8]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật
10
Tố tụng hình sự, Điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 07 (bảy) năm tù.
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 03 (ba) năm tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H trả lại cho bị hại ông Nguyễn Văn T số tiền 230.000.000 đồng – Hai trăm ba mươi triệu đồng.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bà Đinh Thị Thanh N1 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 169698 (bản chính).
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 82-08/4/2024 ngày 08 tháng 4 năm 2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Bình An |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ THU H ĐIỀU 174 BLHS
