|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU Bản án số: 98/2024/DS-ST Ngày 19-4-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Văn Công Trọn
- Ông Lê Thanh Hiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Cẩm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 173/2022/TLST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N2.
Địa chỉ: Số B, L, phường T, Quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T - Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Sơn Vĩnh P - Giám đốc Phòng G, huyện T theo giấy ủy quyền số 159 ngày 15/4/2023 (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm: 1972.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hội H, sinh năm 1972 (xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm: 1949 (chết).
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Â:
- Anh Nguyễn Ngọc P1 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Phú N1 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Chị Nguyễn Thị Mai T1 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 15/4/2022, quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn ông Sơn Vĩnh P trình bày: Ngày 18/12/2018, Ngân hàng N2 (A) chi nhánh huyện T có ký hợp đồng tín dụng số LAV – 201805705/HĐTD với bà Huỳnh Thị N. Phương thức vay: Từng lần; Mục đích sử dụng tiền vay: Mua mới và sửa chữa tàu cá; Thời hạn vay 120 tháng; Số tiền vay: 1.800.000.000 đồng (kèm theo phụ lục hợp đồng và giấy nhận nợ) + Giấy nhận nợ ngày 18/12/2018, số tiền 1.800.000.000 đồng. Để đảm bảo khoản vay trên bà Huỳnh Thị N, ông Nguyễn Văn  đã ký hợp đồng thế chấp:
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số SĐKD 1645/HĐTC ngày 06/2/2017, giá trị tài sản 329.000.000 đồng, thửa đất số 208, tờ bản đồ số 51, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 233344, diện tích 32,9m² (đất ở tại đô thị), đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số SĐKD 1000/HĐTC ngày 08/5/2017, giá trị tài sản 800.000.000 đồng, giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 170020, số đăng ký CM 91835-TS, loại tàu đánh cá, đứng tên Huỳnh Thị N.
- Hợp đồng thế chấp tài sản số SĐKD 1644/HĐTC ngày 03/2/2017, giá trị tài sản 1.400.000.000 đồng, giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 0001, số đăng ký CM 91418-TS, loại tàu đánh cá, đứng tên Huỳnh Thị N.
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CC584822/HĐTC ngày 02/4/2019, giá trị tài sản 40.059.000 đồng, thửa đất số 438, tờ bản đồ số 10, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 584822, diện tích 1.335,0m² (đất trồng cây lâu năm), đất tọa lạc tại ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Quá trình vay bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng. Tính đến ngày 19/4/2023, tổng dư nợ của bà N là 2.373.311.642 đồng (trong đó vốn: 1.658.500.000 đồng; lãi: 714.811.642 đồng). A chi nhánh huyện T đã nhiều lần làm việc với bà Huỳnh Thị N, nhắc nhở đôn đốc nhưng đến nay phía gia đình bà N không trả vốn và lãi.
Nay ngân hàng A yêu cầu bà Huỳnh Thị N trả cho Ngân hàng A toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 19/4/2024 là 2.373.311.642 đồng (trong đó vốn: 1.658.500.000 đồng; lãi: 714.811.642 đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà bà N đã ký; Trường hợp không trả được nợ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp; yêu cầu các tài sản hợp pháp khác của bà N để trả khoản nợ trên cho ngân hàng.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Hội H trình bày: Ông đồng ý theo toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý thanh toán số tiền 2.373.311.642 đồng (trong đó vốn: 1.658.500.000 đồng; lãi: 714.811.642 đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng mà bà N đã ký, đồng ý xử lý tài sản thế chấp để thi hành án.
- Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc P1, anh Nguyễn Phú N1, chị Nguyễn Thị Mai T1 không yêu cầu gì và cũng không có ý kiến trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 298, 299, 318, 322, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh Thị N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A tổng số tiền tính đến ngày 19/4/2024 là 2.373.311.642 đồng và trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết nợ gốc. Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp đối với phần đất ông Nguyễn Văn  đứng tên giấy chứng nhận, tiếp tục duy trì phần diện tích còn lại và các tài sản thế chấp khác để đảm bảo thi hành án. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Bà Huỳnh Thị N có nơi cư trú tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp là hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc P1, anh Nguyễn Phú N1, chị Nguyễn Thị Mai T1 vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định.
- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là Ngân hàng A yêu cầu bà Huỳnh Thị N trả tiền gốc, tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa ngân hàng với bà N do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng tín dụng. Bị đơn là cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh, mục đích vay để mua mới tàu cá. Như vậy tranh chấp được xác định là tranh chấp về hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;
[2] Về nội dung tranh chấp: Ngày 18/12/2018, Ngân hàng N2 (A) chi nhánh huyện T có ký hợp đồng tín dụng số LAV – 201805705/HĐTD với bà Huỳnh Thị N. Phương thức vay: Từng lần; Mục đích sử dụng tiền vay: Mua mới và sửa chữa tàu cá; Thời hạn vay 120 tháng; Số tiền vay: 1.800.000.000 đồng (kèm theo phụ lục hợp đồng và giấy nhận nợ) + Giấy nhận nợ ngày 18/12/2018, số tiền 1.800.000.000 đồng.
Đến thời hạn trả nợ gốc, trả lãi nhưng bà Huỳnh Thị N không trả khoản nợ gốc và nợ lãi theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là vi phạm Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số LAV – 201805705/HĐTD ngày 18/12/2018. Tính đến trước ngày xét xử sơ thẩm ngày 19/4/2024, tổng dư nợ của bà N là 2.373.311.642 đồng (trong đó vốn: 1.658.500.000 đồng; lãi: 714.811.642 đồng) và lãi phát sinh theo lãi suất đã ký theo hợp đồng tín dụng như ngân hàng trình bày là có cơ sở. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị N trả số tiền nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên theo hợp đồng tín dụng theo khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp: Hội đồng xét xử thấy rằng. Các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số SĐKD 1645/HĐTC ngày 06/2/2017, giá trị tài sản 329.000.000 đồng, thửa đất số 208, tờ bản đồ số 51, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 233344, diện tích 32,9m² (đất ở tại đô thị), đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; Hợp đồng thế chấp tài sản số SĐKD 1000/HĐTC ngày 08/5/2017, giá trị tài sản 800.000.000 đồng, giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 170020, số đăng ký CM 91835-TS, loại tàu đánh cá, đứng tên Huỳnh Thị N; Hợp đồng thế chấp tài sản số SĐKD 1644/HĐTC ngày 03/2/2017, giá trị tài sản 1.400.000.000 đồng, giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 0001, số đăng ký CM 91418-TS, loại tàu đánh cá, đứng tên Huỳnh Thị N; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số CC584822/HĐTC ngày 02/4/2019, giá trị tài sản 40.059.000 đồng, thửa đất số 438, tờ bản đồ số 10, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 584822, diện tích 1.335,0m² (đất trồng cây lâu năm), đất tọa lạc tại ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Xét thấy các hợp đồng thế chấp được lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định pháp luật, đến nay các đương sự không có tranh chấp ý kiến gì về việc thế chấp, về hợp đồng thế chấp đã ký.
[4] Qua xem xét, thẩm định tại chỗ thì phần đất đứng tên bà Huỳnh Thị N, thửa đất số 208, tờ bản đồ số 51, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 233344, diện tích 32,9m² (đất ở tại đô thị), đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau hiện bà N đang quản lý sử dụng, không cầm cố, sang bán cho ai; đối với hai tàu cá theo giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 170020, số đăng ký CM 91835-TS và giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 0001, số đăng ký CM 91418-TS đứng tên Huỳnh Thị N hiện đang neo đậu tại nhà bà N, không hoạt động đánh bắt.
Tuy nhiên, đối với phần đất theo hợp đồng thế chấp số CC584822/HĐTC ngày 02/4/2019 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn Â, biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm chỉ thể hiện giá trị đất không xem xét tài sản trên đất, trong khi hiện nay, trên phần đất có khu mộ Nguyễn-Trần do các con ông  đang quản lý và xây dựng nhà mồ từ thời điểm trước khi ông  thế chấp. Lẽ ra ngân hàng phải trừ ra diện tích khu nhà mồ khi giao dịch để đảm bảo việc xử lý tài sản thế chấp khi người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị vô hiệu một phần diện tích đối với khu nhà mồ, lối đi mà các con ông  đang quản lý, sử dụng diện tích 470m².
Quá trình giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Ngọc P1, anh Nguyễn Phú N1, chị Nguyễn Thị Mai T1 không có yêu cầu, cũng như không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Do đó, việc nguyên đơn đề nghị phát mại tại sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp cũng như phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Phần đất của ông  hiện do các con ông  là anh P1, anh N1, chị Mai T1 đang quản lý nhưng không có yêu cầu gì trong vụ án. Do đó, trường hợp bà N không trả được nợ cho ngân hàng buộc phải giao tài sản thế chấp thì phải trừ ra phần diện tích lối đi và khu nhà mồ mà các con ông  đang quản lý, sử dụng diện tích 470m². Phần diện tích còn lại buộc bà N, các con ông  gồm anh P1, anh N1, chị Mai T1 đang quản lý phải giao tài sản trên cho Cơ quan thi hành án phát mại để đảm bảo trả khoản nợ trên cho ngân hàng.
[5] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Đương sự phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận. Do yêu cầu của ngân hàng được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí, thẩm định tại chỗ. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có tạm nộp số tiền chi phí thẩm định tại chỗ 400.000 đồng, đã chi trả xong. Nguyên đơn yêu cầu được nhận lại. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng số tiền 400.000 đồng.
[7] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đã dự nộp được nhận lại. Bị đơn bà Huỳnh Thị N phải chịu số tiền 79.466.000 đồng (tròn số) theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 157, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các Điều 130, Điều 166, Điều 298, 299, 317, 318; 319, 322, khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 - Buộc bà Huỳnh Thị N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N2 số tiền là 2.373.311.642 đồng (Hai tỷ ba trăm bảy mươi ba triệu ba trăm mười một nghìn sáu trăm bốn mươi hai đồng). Trong đó, gốc 1.658.500.000 đồng; lãi 714.811.642 đồng) theo hợp đồng tín dụng số LAV – 201805705/HĐTD ngày 18/12/2018.
Kể từ ngày tiếp theo ngày 19/4/2024, Khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Tuyên bố hợp đồng thế chấp số CC584822/HĐTC ngày 02/4/2019 giữa Ngân hàng với ông  vô hiệu một phần là phần đất diện tích khu mồ và lối đi vào khu nhà mồ diện tích 470m² mà các con ông  đang quản lý, sử dụng. Trường hợp bà Huỳnh Thị N không trả hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng N2 thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại, xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau theo hợp đồng thế chấp số SĐKD 1645/HĐTC ngày 06/2/2017; Tàu đánh cá, giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 170020, số đăng ký CM 91835-TS theo hợp đồng thế chấp tài sản số SĐKD 1000/HĐTC ngày 08/5/2017; Tàu đánh cá, giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 0001, số đăng ký CM 91418-TS theo hợp đồng thế chấp tài sản số SĐKD 1644/HĐTC ngày 03/2/2017; quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau theo hợp đồng thế chấp số CC584822/HĐTC ngày 02/4/2019 (sau khi trừ ra phần diện tích 470m²) để thu hồi nợ.
- Về chi phí tố tụng: Buộc bà Huỳnh Thị N có trách nhiệm hoàn trả chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 400.000 đồng cho Ngân hàng N2.
Kể từ ngày Ngân hàng N2 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Huỳnh Thị N không thi hành xong khoản tiền trên, bà N còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Huỳnh Thị N phải chịu 79.466.000 đồng khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngân hàng N2 không phải chịu án phí, ngày 19/4/2022 Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí số tiền 36.050.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo biên lai số 0004688 được hoàn lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Đoan |
Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 98/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
