|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 21/8/2023.
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Hiếu
2. Ông Đặng Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Gia Huy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2023/TLST-HNGĐ ngày 12/4/2023, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/7/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 67/2023/QĐST-HNGĐ ngày 03/8/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị B, sinh năm 1990 (vắng mặt có lý do)
Địa chỉ: Thôn Lạc Long, xã Cẩm Phú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 2, xã Thuận Minh, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 05/4/2023 cũng như lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị B trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh H sống chung vợ chồng có đăng ký kết hôn ngày 30/8/2011 tại Uỷ ban nhân dân xã Thuận Minh, huyện Hàm Thuận Bắc. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện tìm hiểu. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, hai người không thường xuyên sống chung, anh Nguyễn Minh H không có trách nhiệm với chị và con, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh H. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Lam Minh K, sinh ngày 16/3/2012. Khi ly hôn, chị Bùi Thị B yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Nguyễn Minh H cấp dưỡng tiền nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Minh H để tống đạt văn bản tố tụng, nhưng anh Nguyễn Minh H cố tình vắng mặt. Do đó, vụ án giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của chị Bùi Thị B và anh Nguyễn Minh H không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa vì chị Bùi Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt và anh Nguyễn Minh H triệu tập nhiều lần không đến Tòa làm việc. Căn cứ điểm Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Bùi Thị B và anh Nguyễn Minh H.
1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/7/2023 đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự trình bày yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã Thuận Minh, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.
2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau: Theo lời khai của chị Bùi Thị B thì chị và anh Nguyễn Minh H sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Minh, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên là hôn nhân hợp pháp. Chị Bùi Thị B khai nguyên nhân mâu thuẫn là do trong cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống, anh Nguyễn Minh H không quan tâm phụ giúp vợ con dẫn đến cãi nhau. Xuất phát từ nguyên nhân nêu trên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tình trạng hôn nhân của chị Bùi Thị B và anh Nguyễn Minh H rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị B.
3. Về con chung: Chị Bùi Thị B khai phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ là vợ chồng có 01 con tên Nguyễn Lam Minh K, sinh ngày 16/3/2012 hiện nay chị Bùi Thị B nuôi dưỡng, tại bản tự khai ngày 08/6/2023 cháu Khang có nguyện vọng ở với chị Bích nên khi ly hôn chị Bùi Thị B yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
4. Về tài sản và nợ: Chị Bùi Thị B không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.
5.Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Bùi Thị B là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Anh Nguyễn Minh H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2.Tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị B đối với anh Nguyễn Minh H. Chị Bùi Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Minh H.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lam Minh K, sinh ngày 16/3/2012 cho chị Bùi Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Minh H có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3. Về án phí, lệ phí: Chị Bùi Thị B là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị đã nộp đủ 300.000₫ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0014517 ngày 12/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa. Chị Bùi Thị B không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Minh H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí câp dưỡng nuôi con.
4.Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị B và anh Nguyễn Minh H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ung Thanh Quang |
Bản án số 98/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 98/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con chung
