TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày 18 tháng 7 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Quốc Sử và bà Đặng Thị Mỹ Hường
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Thanh Lâm và ông Lê Tùng D - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Mai Thái B, sinh năm: 1999, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số B H, khóm F, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Thái P (chết) và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: ngày 20 tháng 11 năm 2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: không; nhân thân: ngày 23/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt (phạm tội dưới 18 tuổi); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/3/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).
- Bị hại: Công ty Cổ phần D1; Trụ sở: số B L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Chị Phan Ngọc M, sinh năm: 1999; Nơi cư trú: số C, tổ A, ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; Địa chỉ liên lạc: số G U, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền số 094/2024/UQ-Wicommerce-WM+ ngày 18/6/2024) (vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Thái B đã có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do không có tiền tiêu xài, nên B nảy sinh ý định trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, vào các ngày 08/01/2021, 09/01/2021 và 13/01/2021, B đến cửa hàng T⁺ (Cửa hàng T⁺) số 77 đường U, khóm Đ, phường Đ, thành phố L (nay là của hàng Winmart⁺ thuộc Công ty Cổ phần D1), để trộm cắp tài sản, mỗi lần lấy trộm là hàng hóa mỹ phẩm các loại như: kem rửa mặt, chống nắng, sữa rửa mặt, sữa dưỡng da, lăn khử mùi... nhưng không rõ số lượng, cất giấu trong người đem đến khu vực Đình M thuộc phường M, thành phố L bán lại cho những người khách đi đường không rõ nhân thân được từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, tiêu xài cá nhân. Tổng số tài sản 03 ngày B lấy trộm tại Của hàng Vinmart⁺ theo thống kê thực tế, gồm: 08 cái KEMNGHIA kềm thép d-401 simili; 01 hộp GATSBY gel tạo kiểu tóc đen 75g; 07 gói phim thấm dầu ACNES, loại 50 tờ; 02 tuýp OXY kem rửa mặt 100g (perfect wash); 02 chai NEVIA dưỡng thể săn da, dưỡng trắng đêm 400ml; 01 chai VASELINE sữa dưỡng thể perfect 10 in 350ml; 01 chai VASELINE sữa dưỡng thể trắng da tức thì 200ml; 01 chai NIVEA dưỡng thể săn da, dưỡng trắng 350ml; 01 tuýp BIORE sữa chống nắng lót trang điểm 30ml; 03 chai NIVEA 81644 lăn khử mùi nữ trắng mịn 50ml; 02 chai NIVEA 83735 lăn khử mùi nữ ngọc trai 50ml; 02 chai X-MEN lăn khử mùi for boss romantic 40g; 02 chai ENCHANTEUR LKM sáp romamtic 40g; 06 tuýp BIORE tinh chất chống nắng dưỡng ẩm 50g; 02 chai NIVEA SRM tạo bọt hoa hồng sáng da 100ml; 05 tuýp SENKA SRM tạo bọt perfect whip N; 04 tuýp SEMKA SRM perfect whiteclay 120g; 04 tuýp SENKA SRM tạo bọt perfect collagen in 120g; 02 chai NIVEA LKM nam than đen hoạt tính 50ml. Khoảng 14 giờ ngày 15/01/2021, B tiếp tục đến Của hàng Vinmart⁺ định trộm cắp tài sản thì nhân viên của hàng Vinmart⁺ nghi ngờ, nên trình báo Công an phường Đ. Hành vi trên đã được camera của Cửa hàng T⁺ ghi lại. Cơ quan điều tra đã thu giữ video này.
Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 68/KL.HĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố L: Tổng giá trị tài sản được định giá là 5.335.000 đồng.
Bị hại Công ty Cổ phần D1 do chị Phan Ngọc M là đại diện ủy quyền quá trình điều tra trình bày: Vào các ngày 08/01/2021, 09/01/2021 và 13/01/2021, cửa hàng T⁺ bị mất trộm với tổng số hàng hóa trị giá 5.335.000 đồng như nội dung vụ án. Sau khi bị mất trộm, chị M đã bồi thường cho tập đoàn V1 5.335.000 đồng nên chị M yêu cầu bị cáo B bồi thường lại cho chị M 5.335.000 đồng.
Trần Văn B1, Trần Văn V, S, Trương Thanh H1 Tại Cáo trạng số 108/CT-VKSLX ngày 24/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy
3
tố bị cáo Mai Thái B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Mai Thái B khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt đại diện theo ủy quyền của bị hại đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, sau khi bị mất trộm, chị M đã bồi thường cho tập đoàn V1 trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt 5.335.000.000 đồng nên chị M yêu cầu bị cáo bồi thường lại cho chị M số tiền 5.335.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Thái B từ 01 (một) năm đến 01 (một) 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Mai Thái B bồi thường cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 5.335.000 đồng.
Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại, đại diện theo ủy quyền bị hại vắng mặt, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo B đã khai
4
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của đại diện theo ủy quyền bị hại, về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Ngày 08/01/2021 đến ngày 13/01/2021, bị cáo B đến cửa hàng T⁺ (số G U, khóm Đ, phường Đ, thành phố L) và lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản của bị hại đã lén lút trộm cắp tài sản hàng hóa là mỹ phẩm các loại như: kem rửa mặt, chống nắng, sữa rửa mặt, sữa dưỡng da, lăn khử mùi... với tổng giá trị tài sản là 5.335.000 đồng, sau đó mang đến khu vực Đình M, thuộc phường M, thành phố L bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từng nhiều lần bị xử lý hình sự và có quá trình cải tạo tại trại giam. Lẽ ra, bị cáo phải siêng năng lao động, tu dưỡng rèn luyện để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, chỉ vì nhanh chóng muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn nhiều công sức lao động hợp pháp bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” trong khi bản thân nhận thức được rất rõ hành vi đó là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Trước khi phạm tội bị cáo B là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, trong đó tiền án của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
5
[6] Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của bị cáo đã gây thiệt hại cho bị hại. Quá trình điều tra, chị M cho rằng sau khi bị mất trộm, chị M đã bồi thường cho tập đoàn V1 giá trị tài sản chiếm đoạt 5.335.000 đồng và yêu cầu bị cáo hoàn lại số tiền trên cho chị M nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Tại tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiến chiếm đoạt trên cho bị hại. Do đó, buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 5.335.000 đồng.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra không thu giữ vật chứng nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mai Thái B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Mai Thái B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 29/3/2024).
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Mai Thái B có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 5.335.000 đồng (năm triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Mai Thái B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
6
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp TS
