Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày 17 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Trang, bà Võ Thị Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/HSST ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Thị Lệ T, sinh ngày 21/7/1968, nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số D, tổ A, Khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Á (chết) và bà Nguyễn Thị D (chết); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/4/2024 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Huỳnh Tấn D1 - Luật sư Công ty L1 – Chi nhánh P thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số B, Tầng A, đường N, khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Lê Hồng N, sinh năm 1951, nơi cư trú: Số H, tổ B, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Ông Mai Văn C, sinh năm 1966, nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1997, nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1975, nơi cư trú: Tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968, nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bà Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1991, nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1991, nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Nguyễn Hải Â, sinh năm 2001 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 16/4/2024, Công an phường N bắt quả tang Trần Thị Lệ T đang tổng hợp phơi số đề bán cùng ngày gồm các đài Vũng Tàu, B, Bến Tre; thu giữ 17 tờ phơi đề lẻ, 01 tờ phơi đề tổng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38, màu trắng, bên trong có gắn 02 sim số 0763.064.717 và 0907.666.983, 02 tờ giấy can màu xanh, 01 cây viết mực xanh, tiền Việt Nam 15.579.000 đồng và nhiều vật dụng dùng để đánh bạc.

Điều tra xác định, từ ngày 30/12/2023 đến ngày 16/4/2024 T ghi số đề bằng hình thức bán trực tiếp hoặc thông qua tin nhắn Zalo tên “Lệ Thủy” và tin nhắn SMS trên điện thoại di động cho nhiều người tham gia đánh bạc. Từ ngày 30/12/2023 đến ngày 14/02/2024, bán số lô, số đề từ 800.000 đồng đến 1.300.000 đồng và giữ phơi đề lại tính tiền thắng thua trực tiếp với người chơi thông qua kết quả xổ số kiến thiết đài miền N và miền B, thu lợi khoảng 5.000.000 đồng. Từ ngày 15/02/2024 đến ngày 16/4/2024, mỗi ngày T bán từ 1.500.000 đồng đến 14.206.000 đồng, sau đó T tổng hợp các phơi số đề lại chụp ảnh gửi qua Zalo tên “Ngọc L” của Trần Thị Ngọc L để L tính tiền thắng thua với những người tham gia đánh bạc, mỗi ngày T được hưởng tiền huê hồng từ L số tiền 150.000 đồng đến 250.000 đồng, thu lợi được 12.000.000 đồng.

Trong ngày 16/4/2024, T ghi số lô, số đề cho Lê Hồng N số tiền 90.000 đồng, Hà Văn T2 số tiền 1.885.000 đồng, Mai Văn C số tiền 135.000 đồng và một số người khác (không rõ họ, tên, địa chỉ) tổng số tiền thể hiện trên phơi là 14.206.000 đồng. Trong lúc đang T đang cộng phơi số đề, chuyển cho L được một mặt của tờ phơi số tiền 2.310.000 đồng.

Tỷ lệ thắng thua: Đối với số đầu A, số đuôi B, số lô (02 chữ cuối của 18 lô) 1.000 đồng trúng được 80.000 đồng; đối với số lô 03 chữ số 1.000 đồng trúng được 600.000 đồng; số đá 1.000 đồng trúng được 700.000 đồng.

Hình thức thanh toán: Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N và miền B, bị can T và những người tham gia đánh bạc thống nhất số tiền thắng, thua xong sẽ đến nhà của T gặp trực tiếp giao, nhận tiền mặt. Từ lúc bán số đề cho đến lúc bị bắt T thu lợi bất chính 17.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 17 tờ phơi đề lẻ; 01 tờ phơi đề tổng; 01 cây viết mực xanh; 02 tờ giấy can mực màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu trắng, bên trong có gắn 02 sim số 0763.064.717 và 0907.666.983; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu xanh, bên trong có gắn sim số 0792.284.888; tiền Việt Nam 15.579.000 đồng và các đồ vật khác có liên quan.

Căn cứ các Kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 26/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong: 01 điện thoại di động (ký hiệu: A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong 01 đĩa DVD dữ liệu kèm theo giao cho Cơ quan điều tra. Kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD nhãn hiệu RISHENG, có tổng dung lượng 73,7 MB.

Căn cứ Kết luận giám định số 837/KL-KTHS ngày 09/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Chữ viết màu xanh trên tài liệu cần giám định (ký hiệu: A) so với chữ viết của Trần Thị Lệ T trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1 đến M3) do cùng một người viết ra.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSCĐ-HS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Trần Thị Lệ T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố; không có ý kiến về Cáo trạng và các kết luận giám định. Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật; thời gian bị tạm giam bị cáo mất tự do và rất hối hận về việc làm của mình. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn H khai, ông là chồng của bị cáo, làm nghề chạy xe ôm với thời gian sáng đi làm, chiều tối về nên không biết vợ có mua bán số đề. Hằng ngày bị cáo cũng mua, bán quán nước giải khát tại nhà. Sự việc xảy ra ông không biết và xin HĐXX xem xét tha thứ cho vợ lần đầu.

Chủ tọa công bố lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Thị Lệ T 05 tháng 03 ngày tù về tội “Đánh bạc”. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo đề nghị HĐXX phạt số tiền 20.000.000 đồng.

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị: (1) Tiếp tục lưu hồ sơ: Đối với 17 tờ phơi đề lẻ; 01 tờ phơi đề tổng; 02 tờ giấy can mực màu xanh. (2) Tịch thu tiêu hủy: 01 cây viết mực xanh. (3) Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu trắng, bên trong có gắn 02 sim số 0763.064.717 và 0907.666.983 của Trần Thị Lệ T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu xanh, bên trong có gắn sim số 0792.284.888 của ông M 13.639.000 đồng là số tiền bán số đề có được. (4) Trả cho bị cáo Trần Thị Lệ T số tiền 1.940.000 đồng là số tiền của cá nhân bị cáo không liên qaun đến số tiền đánh bạc nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành án. (5) Buộc bị cáo giao nộp số tiền thu lợi bất chính 17.000.000 đồng được khấu trừ số tiền 1.940.000 đồng đã thu giữ của bị cáo. (6) Buộc Trần Thị Ngọc L giao nộp số tiền thu lợi bất chính 8.000.000 đồng.

- Trường hợp Lê Hồng N, Hà Văn T2, Mai Văn C, Trần Thị Ngọc L có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số đề được thua bằng tiền, nhưng dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp. Với những người mua số đề (không rõ lai lịch), chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

- Đối với Trần Thị Ngọc L khai nhận nhiều lần nhận phơi số lô, số đề của T giao. Tuy nhiên, ngoài lời khai của T, L thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh việc L nhận phơi số lô, số đề từ T và ngày 16/4/2024, L tham gia đánh bạc (nhận phơi số đề của T) với số tiền 2.310.000 đồng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L về hành vi “Đánh bạc” là có căn cứ.

- Luật sư Huỳnh Tấn D1 vắng mặt tại phiên tòa, Chủ tọa công bố luận cứ bào chữa cho bị cáo như sau: Thống nhất nội dung Cáo trạng, qua đó thể hiện Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật về tội danh “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Thống nhất về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo về thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo từ 06 tháng - 09 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt. Xét những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về nội dung,

[3] Hành vi phạm tội:

Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng; phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản kiểm tra điện thoại; Kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh A; phù hợp với vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định bị cáo T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số đề được thua bằng tiền có giá trị từ 5.000.000 đồng trở lên cụ thể:

  • + Khoảng cuối tháng 12/2023 cho đến ngày 14/02/2024, T bán số lô, số đề với số tiền từ 800.000 đồng đến 1.300.000 đồng, thu lợi khoảng 5.000.000 đồng.
  • + Từ ngày 15/02/2024 đến ngày 16/4/2024, mỗi ngày T bán số lô, số đề số tiền từ 1.500.000 đồng đến 14.206.000 đồng, thu lợi được 12.000.000 đồng.
  • + Ngày 16/4/2024, T ghi số lô, số đề cho Lê Hồng N số tiền 90.000 đồng, Hà Văn T2 với số tiền 1.885.000 đồng, Mai Văn C với số tiền 135.000 đồng và một số người khác (không rõ họ, tên, địa chỉ) với tổng số tiền thể hiện trên phơi là 14.206.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn mặt khách quan của tội đánh bạc; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến trật tự công cộng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đánh bạc trái phép là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh đô thị và gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo đang bị tạm giam, có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng. Trong thời gian tạm giam để điều tra đến nay đã 05 tháng 03 ngày, bị cáo cũng đã nhận thức được sai lầm của mình, số tiền đánh bạc không lớn nên không cần thiết tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà xem xét mức hình phạt tù bằng thời gian tạm giam cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Bị cáo có mua bán nước giải khát nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

[7] Các biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo giao nộp số tiền thu lợi bất chính 17.000.000 đồng. Buộc bà Trần Thị Ngọc L giao nộp số tiền thu lợi bất chính 8.000.000 đồng theo đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.

[8] Về xử lý vật chứng: Xem xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận như sau: (1) Tiếp tục lưu hồ sơ: Đối với 17 tờ phơi đề lẻ; 01 tờ phơi đề tổng; 02 tờ giấy can mực màu xanh. (2) Tịch thu tiêu hủy: 01 cây viết mực xanh. (3) Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu trắng, bên trong có gắn 02 sim số 0763.064.717 và 0907.666.983 của Trần Thị Lệ T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu xanh, bên trong có gắn sim số 0792.284.888 của ông Mai Văn C. Tiền Việt Nam 13.639.000 đồng là số tiền bán số đề có được. (4) Trả cho bị cáo Trần Thị Lệ T số tiền 1.940.000 đồng là số tiền của cá nhân bị cáo không liên quan đến số tiền đánh bạc nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành án.

[9] Các vấn đề khác theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 5 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Lệ T phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị Lệ T 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày tù, bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam.

Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Buộc bị cáo nộp phạt số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 17 tờ phơi đề lẻ; 01 tờ phơi đề tổng; 02 tờ giấy can mực màu xanh.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 cây viết mực xanh.
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A38, màu trắng, bên trong có gắn 02 sim số 0763.064.717 và 0907.666.983. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7, màu xanh, bên trong có gắn sim số 0792.284.888. Tiền Việt Nam 13.639.000 đồng.
  • - Trả cho bị cáo Trần Thị Lệ T số tiền 1.940.000 đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm cho việc thi hành án.
  • - Buộc bị cáo Trần Thị Lệ T giao nộp số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.
  • - Buộc bà Trần Thị Ngọc L giao nộp số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng.

Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2024.

4. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Thị Lệ T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng những người liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Người liên quan (1);
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Trần Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger