|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HS-ST
Ngày: 17 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Dững - Hiệu trưởng trường THCS Gò Đen, huyện B, tỉnh Long An
Bà Nguyễn Thị Oanh Thy - Hiệu trưởng trường THCS Tân Bửu, huyện B, tỉnh Long An
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Tống Hoàng P, sinh ngày 25/8/2001, tại Đồng Tháp; Nơi ĐKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện tại: khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Thanh N và bà Nguyễn Thị C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/4/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (có mặt).
- Bị hại: Lâm Ngọc T, sinh ngày 22/10/2010. Xin vắng mặt
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị hại:
- Ông Lâm Văn S, sinh năm 1985 (cha ruột)
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1989 (mẹ ruột)
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Tạm trú: Số D Liên thôn A, khu phố I, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm Văn S: Bà Trần Thị H, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Tạm trú: Số D Liên thôn A, khu phố I, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
(Theo giấy ủy quyền ngày 22/3/2024). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Anh T1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tống Hoàng P và Lâm Ngọc T, sinh ngày 22/10/2010 quen biết nhau thông qua mạng xã hội zalo, sau đó nhắn tin qua lại và nảy sinh tình cảm với nhau. Khoảng 18 giờ 30 ngày 29/01/2024, P nhắn tin cho T rủ đi chơi và uống cà phê, T đồng ý, đến khoảng 18 giờ 45 phút, P điều khiển xe mô tô biển số 62N1-692.41 qua nhà trọ của T ở Khu phố I, thị trấn B, huyện B gặp bà Trần Thị H (mẹ T) xin chở T đi chơi, bà H đồng ý, P chở T đi ăn ốc và uống bia. Đến 20 giờ 30 phút, P chở T về phòng trọ của P đang thuê ở Phòng số 9 - Nhà trọ H1: số C, Khu phố A, thị trấn B, huyện B chơi, lúc này nhà trọ không có ai, cả hai ngồi trên nệm, P và T hôn nhau, P dùng hai tay cởi quần áo của T, P cũng tự cởi quần áo sau đó P thực hiện hành vi giao cấu với T khoảng 03 phút xuất tinh trong âm đạo và cả hai nằm ôm nhau. Khoảng 20 phút sau, P tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu với T khoảng 03 đến 05 phút xuất tinh trong âm đạo rồi cả hai đi tắm và mặc quần áo lại, P điều khiển xe chở T về lại nhà trọ. Cùng thủ đoạn như trên, P thực hiện hành vi giao cấu với T 02 lần nữa, cụ thể: khoảng 22 giờ ngày 07/3/2024, P đón T về phòng trọ của mình chơi và thực hiện hành vi giao cấu với T khoảng 03 phút xuất tinh trong âm đạo. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, P tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu với T khoảng 02 phút xuất tinh trong âm đạo rồi cả hai mặc quần áo lại và chở T về nhà trọ. Tất cả những lần giao cấu T đều tự nguyện. Đến ngày 12/3/2024, bà H biết sự việc P giao cấu với T nên đến Công an thị trấn B trình báo việc P có hành vi quan hệ tình dục với T khi chưa đủ 16 tuổi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi bị xâm hại tình dục số 07/KLTDTE-TTPY ngày 26/3/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y giám định và kết luận Lâm Ngọc T, sinh ngày 22/10/2010: Màng trinh hình răng cưa, không có dấu vết rách, màng trinh dãn rộng, đút lọt 02 ngón tay dễ dàng; hiện tại Lâm Ngọc T không có thai; không tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo.
Tại Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSBL ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Tống Hoàng P về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Tống Hoàng P hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Tống Hoàng P về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tống Hoàng P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Tống Hoàng P mức hình phạt từ 04 năm đến 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Tống Hoàng P theo khoản 4 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Đối với 01 áo tay dài màu trắng, 01 áo tay dài màu trắng đỏ, 01 quần vải dài màu đen, 02 quần jean ngắn màu xanh của Tống Hoàng P mặc khi thực hiện giao cấu với Tuyền 04 lần; 01 áo jean màu xanh ngắn, 01 quần jean ngắn màu xanh, 01 áo ngực màu hồng nhạt, 01 áo tay dài màu xanh đen có bông màu cam, 01 quần dài màu xanh có bông màu cam, 01 quần lót màu trắng, 01 quần lót màu hồng nhạt, 01 áo màu xanh tay ngắn, 01 quần màu xanh ngắn của Lâm Ngọc T mặc trong 04 lần giao cấu. Bị cáo và bị hại không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 592 Bộ luật Dân sự, bị hại Lâm Ngọc T và bà Trần Thị H yêu cầu bị cáo P bồi thường tổn thất về sức khỏe và tinh thần với số tiền 80.000.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Tống Hoàng P phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị hại Lâm Ngọc T là bà Nguyễn Thị Anh T1 trình bày: Bà thống nhất về tội danh và mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã đề nghị đối với bị cáo Tống Hoàng P. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thường tổn thất về sức khỏe và tinh thần cho bị hại số tiền 80.000.000đ nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Tống Hoàng P trước tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng với Bản kết luận giám định pháp y đối với trẻ em nghi bị xâm hại tình dục số 07/TDTE ngày 26/3/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y, phù hợp với bản ảnh dựng lại hiện trường, biên ảnh xác định nơi xảy ra vụ việc và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Bị cáo Tống Hoàng P và Lâm Ngọc T, sinh ngày 22/10/2010 quen biết nhau thông qua mạng xã hội zalo sau đó nảy sinh tình cảm. Từ ngày 29/01/2024 đến ngày 08/3/2024, bị cáo P đưa T về phòng trọ của mình thuê tại số C, Khu phố A, thị trấn B, huyện B (Phòng số 9) chơi và sau đó bị cáo P thực hiện hành vi giao cấu với T 04 lần, cụ thể: lần 1 vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, lần 2 vào khoảng 20 giờ 50 phút ngày 29/01/2024, lần 3 vào khoảng 22 giờ 07/3/2024 và lần 4 vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/3/2024, mỗi lần T đều đồng ý và xuất tinh ra trong âm đạo.
Hành vi của bị cáo Tống Hoàng P đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Tống Hoàng P đã có hành vi giao cấu với bị hại 04 lần nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Tống Hoàng P theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Tống Hoàng P gây ra là nguy hiểm không những xâm hại trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của bị hại mà còn xâm phạm quá trình phát triển bình thường của bị hại và gây hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như:
[3.1]. Xét về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[3.2]. Xét về các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Tống Hoàng P có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó khi quyết định hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Từ phân tích [2] và [3], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên và quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Tống Hoàng P là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 145 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội bị cáo Tống Hoàng P còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo P trình bày không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 áo tay dài màu trắng, 01 áo tay dài màu trắng đỏ, 01 quần vải dài màu đen, 02 quần jean ngắn màu xanh của Tống Hoàng P mặc khi thực hiện giao cấu với Tuyền 04 lần; 01 áo jean màu xanh ngắn, 01 quần jean ngắn màu xanh, 01 áo ngực màu hồng nhạt, 01 áo tay dài màu xanh đen có bông màu cam, 01 quần dài màu xanh có bông màu cam, 01 quần lót màu trắng, 01 quần lót màu hồng nhạt, 01 áo màu xanh tay ngắn, 01 quần màu xanh ngắn của Lâm Ngọc T mặc trong 04 lần giao cấu. Bị cáo và bị hại không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 590, 592 Bộ luật Dân sự
Bị hại Lâm Ngọc T và bà Trần Thị H yêu cầu bị cáo P bồi thường tổn thất về sức khỏe và tinh thần với số tiền 80.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 80.000.000 đồng.
[7]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Tống Hoàng P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 590, 592 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Tống Hoàng P bồi thường cho bị hại Lâm Ngọc T số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Tống Hoàng P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Án xử sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- “Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án."
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Tống Hoàng P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Tống Hoàng P 45 ngày kể từ ngày tuyên án (17/9/2024) để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 áo tay dài màu trắng, 01 áo tay dài màu trắng đỏ, 01 quần vải dài màu đen, 02 quần jean ngắn màu xanh, 01 áo jean màu xanh tay ngắn, 01 quần jean ngắn màu xanh, 01 áo ngực màu hồng nhạt, 01 áo tay dài màu xanh đen có bông màu cam, 01 quần dài màu xanh có bông màu cam, 01 quần lót màu trắng, 01 quần lót màu hồng nhạt, 01 áo màu xanh tay ngắn, 01 quần màu xanh ngắn.
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về hình sự: giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tống Hoàng P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
