Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN MINH

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày 17-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiền

Ông Phạm Ngọc Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Mai Hoàng D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Nghề khác (Lao động tự do); trình độ văn hóa: 1/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Hoàng L và bà Nguyễn Thị T; vợ tên T1 (đã ly hôn); con có 01 người, sinh năm 2011 (sống cùng bị cáo); Tiền án: không; tiền sự: Ngày 04/12/2023 bị Công an xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 38/QĐ-XPHC. Ngày 26/02/2024 bị Công an xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 08/QĐ-XPHC; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/5/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Phương C, Văn phòng Luật sư Phạm Văn C1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (xin vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972. Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện A, Kiên Giang (là mẹ ruột bị cáo; có mặt).

- Bị hại:

+ Nguyễn Bé D1, sinh năm 1994. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

+ Lê Minh Đ, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 08 giờ ngày 07/3/2024, bị can Mai Hoàng D đi bộ trên đường từ nhà ra hướng bãi bồi ven biển vàm Xẻo Bần thuộc xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang để mò sò. Khi đi ngang nhà chị Nguyễn Bé D1, sinh năm 1994, thường trú: ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, D quan sát thấy nhà chị D1 cửa mở, bên trong không có người, dưới nền gạch cạnh chỗ giá võng ở nhà trước có để 01 chiếc điện thoại di động, nên nảy sinh ý định lấy trộm, D đi vào lấy điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi đi về nhà. Khi về đến nhà. Sau đó, D lấy điện thoại ra kiểm tra thì biết đó là điện thoại hiệu OPPO màu xanh, có ốp lưng bằng nhựa màu đen và đang còn hoạt động đã bị khóa mật khẩu, D tắt nguồn điện thoại rồi thuê anh Huỳnh Văn S chạy xe ôm ở cùng xóm chở đến chợ xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang, vào một cửa hàng điện thoại di động không nhớ tên cửa hàng để thuê mở khóa điện thoại vừa lấy trộm, sau khi mở khóa xong D kêu anh S chở đến xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang, vào cửa hàng điện thoại di động “Thanh Hiện” do anh Bùi Thanh H làm chủ, để cầm cố điện thoại lấy số tiền 3.000.000 đồng rồi kêu anh S chở về nhà. Khi anh S chở bị can D về đến ấp X, xã T thì bị lực lượng Công an xã mời về trụ sở làm việc. Tại Công an xã T, bị can Mai Hoàng D đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, Công an xã đã tiến hành thu giữ tang vật là 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A78 màu xanh, bị can D đang cầm tại cửa hàng điện thoại di động “Thanh Hiện”.

Trong thời gian chờ kết quả định giá để làm căn cứ xử lý vụ việc, thì vào khoảng 12 giờ ngày 18/4/2024, bị can Mai Hoàng D đi ngang nhà anh Lê Minh Đ, sinh năm 1987, thường trú: ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, nhìn thấy trong nhà không có người, trên bộ vạc gần cửa trước có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ, màn hình cảm ứng, có ốp lưng bằng nhựa màu đen, D đi đến lấy trộm chiếc điện thoại trên rồi đi về nhà, trong lúc trên đường mang điện thoại đi bán thì bị Công an xã T phát hiện mời làm việc, đồng thời thu giữ chiếc điện thoại D đã lấy trộm.

Quá trình điều tra, bị can Mai Hoàng D khai nhận, ngoài thực hiện 02 vụ trộm trên, thì trước đó không nhớ ngày, tháng nào nhưng trong năm 2024, D còn

lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ, màng hình cảm ứng tại nhà của bà Phan Thị H1, sinh năm 1962, thường trú: ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, sau đó mang đến chợ thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang bán cho một người chạy xe ôm không quen biết với giá 300.000 đồng, số tiền bán điện thoại có được D tiêu xài cá nhân.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 12/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận:

- 01 (Một) điện thoại di động OPPO A78, màu xanh mua mới vào khoảng tháng 9 năm 2023. Tại thời điểm định giá tháng 3 năm 2024 có giá trị là 3.500.000 đồng.

- 01 (Một) ốp lưng điện thoại, màu đen mua mới vào khoảng tháng 9 năm 2023. Tại thời điểm định giá tháng 3 năm 2024 có giá trị là 20.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 3.520.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐGTS ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, kết luận:

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung A10S, màu đỏ, mua năm 2022. Tại thời điểm định giá tháng 5 năm 2024 có giá trị là 1.000.000 đồng.

- 01 (Một) ốp lưng bằng nhựa, màu đen, mua vào năm 2022. Tại thời điểm định giá tháng 5 năm 2024 có giá trị là 20.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 1.020.000 đồng.

Tại Công văn số: 01/HĐĐGTSTTTHS ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện A, nội dung:

Căn cứ Yêu cầu định giá tài sản số 591/YC-ĐTTH, ngày 20/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A. Nội dung yêu cầu định giá tài sản: 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ, không nhớ đời máy, mua năm 2021. Xét thấy tài sản cần định giá thiếu thông tin (đời máy), do đó không đủ cơ sở để Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện khảo sát giá trên thị trường làm cơ sở kết luận giá.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 476/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm P giám định tình trạng tâm thần của Bị can Mai Hoàng D. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 256/2024/KLGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm P, kết luận:

Kết luận theo tiêu chuẩn y học:

Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần khác.

Kết luận về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:

Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.

Tại Công văn số: 256.0/PYTTTNB ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm P, có ý kiến như sau:

- Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.

- Về mặt pháp lý, Trung tâm chỉ cung cấp nguồn thông tin với vai trò bổ trợ tư pháp, còn việc áp dụng như thế nào là thuộc thẩm quyền của cơ quan tố tụng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng là 02 chiếc điện thoại di động, sau khi phục vụ công tác điều tra và định giá tài sản đã trả lại cho người bị hại.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và được bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Tại Cáo trạng số 79/CT-VKS-AM ngày 19-8-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Mai Hoàng Dương về tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Mai Hoàng D phạm tội Trộm cắp tài sản và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Hoàng D từ 06 đến 09 tháng tù; về trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì; về vật chứng, đã trả lại cho bị hại nhận nên không xem xét.

- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.

- Người bào chữa cho bị cáo: Đề nghị HĐXX xem xét: trước và tại thời điểm bị cáo D thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo phải đã bồi thường cho người bị hại. Từ những lập luận trên, chỉ mong HĐXX: khi quyết định hình phạt có xem xét toàn diện và áp dụng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa nhằm tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở lại hòa nhập với cộng đồng.

- Đại diện hợp pháp của bị cáo: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình cam kết sẽ quan tâm chăm sóc, quản lý, giáo dục bị cáo thành người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 08 giờ ngày 07/3/2024 tại ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Mai Hoàng D đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A78, màu xanh và 01 ốp lưng điện thoại, màu đen của chị Nguyễn Bé D1 được định giá có tổng giá trị là 3.520.000 đồng.

Đến ngày 18/4/2024 tại ấp B, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Mai Hoàng D tiếp tục thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung A10S, màu đỏ và 01 ốp lưng bằng nhựa, màu đen của anh Lê Minh Đ được định giá có tổng giá trị là 1.020.000 đồng.

[3] Về tội danh: Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Mai Hoàng D phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Bởi lẽ:

[3.1] Về năng lực trách nhiệm hình sự: Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 256/2024/KLGĐ ngày 15/7/2024 của Trung tâm P kết luận tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, do rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần khác. Tại Công văn số: 256.0/PYTTTNB ngày 15/7/2024 của Trung tâm P Nam bộ, xác định tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện tại bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, tuy bị cáo có bệnh hạn chế khả năng nhận thức nhưng vẫn có khả năng nhận thức nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình đã gây ra.

[3.2] Về tội danh: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác; bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng bị cáo vẫn thực hiện để chiếm đoạt tài sản hợp pháp của họ nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản; tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị là 4.540.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Mai Hoàng D phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo gây bức xúc trong dư luận và hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; trong quá trình điều tra gia đình bị cáo đã nộp 3.000.000 đồng để khắc phục hậu quả HĐXX xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng tuy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù. Khi quyết định hình phạt thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử. Thấy thời hạn tạm giam cũng đã đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên chỉ cần xử phạt bằng thời hạn tạm giam nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và bị cáo đã hoàn trả số tiền đã nhận khi cầm cố điện thoại di động trước đó cho ông Bùi Thanh H, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng, đã giao trả lại cho bị hại nhận nên không xem xét.

[7] Về án phí, bị cáo Mai Hoàng D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự

sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Tuyên bố: Bị cáo Mai Hoàng D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s, q khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Hoàng D 04 (bốn) tháng 13 (mười ba) ngày tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 08/5/2024. (Tính đến ngày xét xử bị cáo đã chấp hành xong bản án).

2- Về trách nhiệm dân sự, và về vật chứng, không xem xét.

3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Mai Hoàng D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-9-2024). Bị hại, người bào chữa cho bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Toà án tỉnh KG;
  • - Cơ quan THAHS huyện AM;
  • - Cơ quan THADS huyện AM;
  • - Bị cáo; Bị hại; NBC và NĐDHP của bị cáo;
  • - Sở TP tỉnh KG;
  • - Công an huyện, tỉnh;
  • - UBND X. Thuận Hòa, AM, KG;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Hoàng D phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger