|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 98/2024/DS-ST Ngày 17 tháng 6 năm 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Kịch
Ông Kiêm Hươl
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung, Thư ký Tòa nhân dân huyện
Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thụ lý số 382/2023/TLST-DS, ngày 24 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2024/QĐXXST-DS, ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 131/2024/QĐST-DS, ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V, địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, Chuyên viên Xử lý nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần V, địa chỉ liên hệ: 353 N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo văn bản ủy quyền ngày 16/8/2023
Bị đơn: Ông Phạm Văn C1, địa chỉ: Ấp E, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 16/8/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C trình bày:
Trước đây, Ngân hàng Thương mại cổ phần V (sau đây gọi là Ngân hàng) có thỏa thuận với ông Phạm Văn C1 ký kết các hợp đồng tín dụng vay và thế chấp tài sản sau đây:
- Hợp đồng cho vay số LN2111294791951 ngày 07/12/2021 (Hợp đồng thứ nhất): Số tiền cho vay: 472.000.000 đồng; Thời hạn vay: 84 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay; Mục đích sử dụng vốn: Vay mua xe ô tô tải (nhãn hiệu: JAC, số loại: N650.PLUS/TB1, xe sản
xuất năm 2021 mới 100%). Mục đích: Phục vụ kinh doanh mua bán cam; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 9,5%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh theo thỏa thuận có nêu cụ thể trong hợp đồng.
- Hợp đồng cho vay số LN2206176017309 ngày 15/7/2022 (Hợp đồng thứ hai): Số tiền 540.000.000 đồng; Thời hạn vay: 84 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày bên Ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua xe ô tô tải (nhãn hiệu JAC, N900S.PLUS-TB1 mới 100%, sản xuất năm 2022) phục vụ kinh doanh mua bán trái cây; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 10,25%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân, hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh theo thỏa thuận có nêu cụ thể trong hợp đồng.
- Hợp đồng cho vay số LD2221500345 ngày 03/8/2022 (Hợp đồng thứ ba): Số tiền cho vay: 100.000.000 đồng. Mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng; Thời hạn cho vay tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân vốn vay cho khách hàng đến ngày 15/7/2025; Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay áp dụng theo biểu lãi suất cho vay do Ngân hàng quy định qua từng thời kỳ; Lãi suất quá hạn bằng lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150%, lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Để bảo đảm cho các khoản tiền vay nêu trên, Ngân hàng ký kết với ông Phạm Văn C1 Hợp đồng thế chấp số LN2111294791951 ngày 07/12/2021, tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô tải nhãn hiệu JAC, Biển số đăng ký: 83H-004.33, và 01 xe ô tô tải nhãn hiệu: JAC, Biển số đăng ký: 83H-013.18, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phạm Văn C1. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Phạm Văn C1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các điều khoản của các hợp đồng, tính đến ngày xét xử (ngày 17/6/2024), ông C1 còn nợ Ngân hàng ở hợp đồng thứ nhất vay 472.000.000 đồng, còn nợ vốn gốc 344.001.000 đồng, tiền lãi 101.110.310 đồng (lãi trong hạn 67.406.873 đồng, lãi quá hạn 33.703.437 đồng), cộng chung là 445.111.310 đồng; ở hợp đồng thứ hai vay 540.000.000 đồng, còn nợ vốn gốc 419.430.836 đồng, tiền lãi 97.606.081 đồng (lãi trong hạn 65.070.721 đồng, lãi quá hạn 32.535.360 đồng), cộng chung là 517.036.917 đồng và hợp đồng thứ ba vay 100.000.000 đồng, còn nợ vốn gốc 76.916.977 đồng, tiền lãi 32.996.304 đồng (lãi trong hạn 21.997.536 đồng, lãi quá hạn 10.998.768 đồng), cộng chung là 109.913.281 đồng. Tổng cộng số tiền ông C1 còn nợ của 03 hợp đồng vốn gốc 840.348.813 đồng và tiền lãi 231.712.695 đồng, cộng chung là 1.072.061.508 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Văn C1 phải trả số tiền vốn gốc và lãi còn nợ của 03 hợp đồng cho vay nêu trên với tổng số
tiền là 1.072.061.508 đồng; đồng thời tiếp tục tính lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ; trường hợp ông C1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì có biện pháp xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tại phiên hòa giải ở Tòa án, ông C1 thừa nhận toàn bộ phần trình bày của nguyên đơn, thừa nhận có thỏa thuận các hợp đồng vay và thế chấp tài sản với Ngân hàng, hiện nay còn nợ ngân hàng vốn gốc và lãi như trình bày của nguyên đơn là đúng. Ông C1 muốn thương lượng với phía ngân hàng xin trả dần theo khả năng là 40.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ, nhưng yêu cầu này không được phía nguyên đơn đồng ý.
Đối với tài sản thế chấp là xe ô tô, ông C1 cho biết tài sản này ông đang đứng tên chủ sở hữu, không có cầm cố, sang bán cho ai khác; đại diện phía ngân hàng có đề nghị không thẩm định tài sản bảo đảm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
[1] Ông Phạm Văn C1 là bị đơn trong vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, xét thấy các hợp đồng tín dụng (hợp đồng thứ nhất, hợp đồng thứ hai và hợp đồng thứ ba) về các điều khoản thỏa thuận giữa Ngân hàng với ông C1 đều được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên cho vay là ngân hàng với bên vay là ông C1; các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích thực hiện với nhu cầu lợi nhuận của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên cho vay là ngân hàng đã giải ngân, bên vay là ông C1 đã nhận đủ số tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng, như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nhưng ông C1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận; do vậy việc khởi kiện của ngân hàng yêu cầu buộc ông C1 thanh toán nợ còn lại của 03 hợp đồng cho vay với tổng số tiền là 1.072.061.508 đồng (gồm nợ gốc 840.348.813 đồng và tiền lãi 231.712.695 đồng tính đến ngày xét xử) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông C1 trả hết nợ, là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp ông C1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, xét thấy Hợp đồng thế chấp tài sản số LN2111294791951 lập ngày 07/12/2021, để bảo đảm cho các khoản vay của ông C1 đối với ngân hàng, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm, phù hợp với quy định của pháp luật, với tài sản thế chấp là 01 xe ô tô tải nhãn hiệu JAC, Biển số đăng ký: 83H-004.33, và 01 xe ô tô tải nhãn hiệu: JAC, Biển số đăng ký: 83H-013.18, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của ông Phạm Văn C1 và tất cả các phụ tùng,
thiết bị, vật phụ ... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp; ông C1 cho biết đến thời điểm hiện tại, ông Phạm Văn C1 vẫn còn đứng tên chủ sở hữu đối với 02 xe ô tô và chưa chuyển dịch hợp pháp tài sản này cho ai khác. Do đó, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của ngân hàng trong trường hợp ông C1 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận; mặt khác, việc xử lý tài sản bảo đảm nếu bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng sẽ được xem xét ở giai đoạn thi hành án; nếu tài sản bảo đảm không còn hoặc giá trị thanh toán không đủ, thì vẫn có thể xử lý bằng tài sản khác.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[5] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 280, 317, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 90, 91, 94 và 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ các Điều 7, 8 và 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Phạm Văn C1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V đối với 03 khoản vay của các hợp đồng cho vay ngày 07/12/2021, ngày 15/7/2022 và ngày 03/8/2022 còn nợ với tổng số tiền là 1.072.061.508 (một tỷ không trăm bảy mươi hai triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm lẻ tám) đồng (trong đó nợ gốc 840.348.813 đồng và nợ lãi 231.712.695 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà
khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngân hàng Thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi bán đấu giá tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của ông Phạm Văn C1 để thi hành án trong trường hợp ông C1 không tự nguyện thi hành. Tài sản thế chấp là 02 xe ô tô tải cùng nhãn hiệu JAC, biển kiểm soát số 83H-004.33 và 83H-013.18; giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng C2 Công an tỉnh S cấp cho ông Phạm Văn C1.
2. Về án phí: Buộc ông Phạm Văn C1 phải chịu 44.161.845 (bốn mươi bốn triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm bốn mươi lăm) đồng; Ngân hàng Thương mại cổ phần V không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.235.000 (hai mươi hai triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011737 ngày 23/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |
Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 98/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V yêu cầu ông C1 trả nợ hợp đồng tín dụng
