|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày 17-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Kiểm
Bà Nguyễn Thị Tư
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Lò Văn M, sinh ngày 07 tháng 3 năm 1996, tại Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên, hiện lang thang, không nơi ở cố định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N và bà Lò Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 24/2018/QĐ-TA ngày 20/6/2018, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, kể từ ngày 27/4/2018. Đến ngày 27/10/2019 chấp hành xong (đã được xóa); bị tạm giữ từ ngày 25/12/2023, đến ngày 30/12/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cù Thúy M1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 12 giờ ngày 25/12/2023, Lò Văn H (sinh năm:1992; Nơi thường trú: Bản L, xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi ở hiện tại: Không cố định) gặp Lò Văn M tại khu vực lán nghỉ Công ty D - Đ, H, Hải Phòng. H bảo M “Có biết chỗ nào bán ma túy thì mua giúp 400.000 đồng ma túy Heroine" và đưa tiền cho M. M đồng ý nhận tiền của H và điều khiển xe mô tô Wave BKS 36L9 - 8586 chở H đi mua ma túy. Trên đường đi, M sử dụng điện thoại Nokia của mình gọi điện cho người đàn ông tên N1 (số điện thoại 0904.057.xxx, chưa xác định được căn cước, lai lịch) hỏi mua 05 gói ma túy Heroine, N1 đồng ý, báo giá là 200.000đồng/gói và hẹn đến khu vực gầm cầu vượt BigC giao dịch. Sau khi đến khu vực gầm cầu vượt BigC, M và H đứng đợi một lúc thì bị Công an quận N kiểm tra. Do M có cất giấu trong túi quần sau bên phải 01 gói nilon chứa các gói nhỏ ma túy Heroine để sử dụng nên M vội dùng tay phải móc lấy gói ma túy trong túi quần ra vứt xuống đất. Lực lượng công an đã bắt quả tang M, thu giữ: 01 gói nilon kích thước khoảng 05x08cm bên trong chứa 07 gói nilon nhỏ kích thước mỗi gói khoảng 01x01cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 một xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 36L9 - 8586; 01 một điện thoại Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng và số tiền 1.090.000 đồng của M.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của M, H cho kết quả dương tính với test thử chất ma túy M2.
Kết luận giám định số 1076/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H, xác định: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,16 gam, loại Heroine.
Tại cơ quan điều tra M khai nhận: Do bản thân nghiện chất ma túy nên tối ngày 24/12/2023, tại khu vực gầm cầu vượt L, N, Hải Phòng, M đã mua của một đối tượng tên Nam 1.400.000 đồng ma túy về sử dụng cho bản thân. Mừng mới dùng một phần số ma túy, số ma túy còn lại M cất vào trong túi chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngày 25/12/2023, khi H rủ M đi mua ma túy, M không nói gì với H về số ma túy M để trong người nên H không biết. Số tiền 1.090.000 đồng cơ quan công an thu giữ trong đó có 400.000 đồng H đưa M để đi mua ma túy, số tiền 690.000 đồng còn lại Mừng cất giữ mục đích để mua ma túy.
Về vật chứng:
- - 01 phong bì niêm phong số 1076MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H bên trong chứa 1,82 gam ma túy Heroine và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng; số tiền 1.090.000 đồng chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền quản lý.
- - Xe mô tô Honda Wave BKS 36L9 -8586, quá trình điều tra xác định xe có số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, sửa chữa các ký tự, chủ sở hữu chiếc xe là anh Đào Quang Dũng (địa chỉ: xóm Q, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Ngày 23/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Quyết định ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời. Ngày 23/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 823 để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Tại Bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lò Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Lò Văn M khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt, có quan điểm bào chữa: Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức còn hạn chế. Đề nghị áp dụng mức hình phạt thấp nhất, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn M và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn M với mức án từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không đề nghị hình phạt bổ sung do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1076MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H bên trong chứa 1,82 gam ma túy Heroine và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
- - Tích thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng và số tiền 1.090.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở lại xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về tội danh
[2] Lời khai của bị cáo Lò Văn M tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, Bản kết luận giám định số 1076/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tại khu vực gầm cầu vượt B, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Lò Văn M có hành vi cất giữ trái phép 01 gói ma tuý là loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Loại ma túy thu giữ của bị cáo là loại Heroin có khối lượng 2,16 gam. Vì vậy, bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[6] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phát nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội mới đảm bảo tính răn đe của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[8] Đối với 01 phong bì niêm phong số 1076MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H bên trong chứa 1,82 gam ma túy Heroine và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Đây là lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ trái phép, là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Đối với số tiền 1.090.000 đồng cơ quan công an thu giữ của bị cáo trong đó có 400.000 đồng H đưa bị cáo để đi mua ma túy, số tiền 690.000 đồng còn lại bị cáo cất giữ mục đích để mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[10] Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng: Bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma tuý. Xét thấy đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[11] Đối với xe mô tô Honda Wave BKS 36L9 -8586, quá trình điều tra xác định xe có số khung, số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, sửa chữa các ký tự, chủ sở hữu chiếc xe là anh Đào Quang Dũng (địa chỉ: xóm Q, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Ngày 23/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Quyết định ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhưng chưa có kết quả trả lời. Ngày 23/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 823 để tiếp tục điều tra, làm rõ.
[12] Đối với Lò Văn H quá trình điều tra xác định, H không biết việc M cất giấu ma túy trong người, do đó không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với H. Ngày 21/3/2024, Công an quận N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67 đối với Lò Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[13] Đối với đối tượng tên N1 có số điện thoại 0904.057.xxx là người bán ma túy cho M. Kết quả xác minh của Công ty V thấy chủ thuê bao trên có tên Nguyễn Văn N2, sinh năm 1965, trú tại: L, T, Hải Phòng. Xác minh tại xã L, T, Hải Phòng không có người nào có thông tin như trên cư trú trên địa bàn xã. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
[14] Về án phí: Bị cáo Lò Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xét bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị miễn án phí cho bị cáo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[15] Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt:
Bị cáo Lò Văn M 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 1076MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H bên trong chứa 1,82 gam ma túy Heroine và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen trắng đã qua sử dụng và số tiền 1.090.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Cường |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma tuý
