|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 98/2024/DS-ST Ngày: 16-8-2024 V/v: “ Tranh chấp hợp đồng Dân sự”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Kiều Thu.
- Ông Nguyễn Bính .
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số116/2024/TLST- DS, ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự - chuyển nhượng quyền sử dụng đất”:, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 454/2024/QĐXXST-DS ngày 25/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 547/2024/QÐST–DS ngày 26/7/2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Ông Bùi Bảo T, sinh năm 1990.
Địa chỉ thường trú: Số A B, dân phố A, khu phố G, huyện T, tỉnh Bình Thuận
-Bị đơn: Bà Đặng Thị Nguyệt A, sinh năm 1962 và ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1962.
Địa chỉ thường trú: 149 đường T, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn và bị đơn – Bà Đặng Thị Nguyệt A có mặt tại phiên tòa; Bị đơn - Ông Nguyễn Đức D vắng mặt tại phiên tòa .
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2024, và trong quá trình xét xử, nguyên đơn – ông Bùi Bảo T trình bày cụ thể như sau:
Năm 2019 ông có ký kết các hợp đồng mua đất thuộc dự án tự phân lô bán nền, tại khu phố A, phường P, thành phố P, của bà Đặng Thị Nguyệt A, theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau :
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/6/2019 thửa đất D1-23, diện tích 100m2, giá trị chuyển nhượng 870 triệu đồng, số tiền đặt cọc ông đã giao cho bà A là 400 triệu đồng;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/5/2019 thửa đất D1-24, diện tích 100m2, giá trị chuyển nhượng 870 triệu đồng, số tiền đặt cọc ông đã giao cho bà A là 550 triệu đồng;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 06/5/2019 thửa đất D1-25 và thửa đất D1-26, diện tích 100m² /01 thửa, giá trị chuyển nhượng 870 triệu đồng/01 thửa, tổng giá trị chuyển nhượng 02 thửa đất là 1.740.000.000đ; Số tiền đặt cọc ông đã giao cho bà A là 1.100.000.000 đồng cho cả hai thửa đất;
Tổng số tiền đặt cọc ông đã giao cho bà A là 2.050.000.000đ.
Theo thỏa thuận tại hợp đồng thì bà A có trách nhiệm tách thửa đất và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn 07 tháng kể từ ngày nhận tiền cọc, tuy nhiên bà A không thực hiện thủ tục tách thửa và ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Do vậy ngày 30/7/2020 bà A đã trả lại cho ông 200 triệu đồng tiền cọc và hứa sẽ trả toàn bộ số tiền nhận cọc cho ông nhưng cho đến hiện nay bà A vẫn chưa thực hiện được việc tách thửa và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như trả lại số tiền nhận cọc chưa thanh toán cho ông là 1.850.000.000₫ ;
Do vậy nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy bỏ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký kết giữa ông và bà A, đồng thời buộc vợ chồng bà A ông D phải trả lại cho ông số tiền cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa thanh toán là 1.850.000.000đ.
- Về tiền lãi chậm trả: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án ông yêu cầu bà A và ông D phải trả cho ông tiền lãi với mức 13%/năm nhưng tại phiên tòa ông chỉ yêu cầu trả với mức 05% /năm từ ngày chậm thanh toán là ngày 01/8/2020 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền cọc chưa thanh toán .
- Về án phí : Ông đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của Bị đơn trình bày cụ thể như sau:
Năm 2019 bà Đặng Thị Nguyệt A có ký kết với ông Bùi Bảo T các hợp đồng chuyển nhượng 04 lô đất D1-23; D1-24; D1-25; D1-26 thuộc dự án phân lô tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Các thửa đất chuyển nhượng nằm trong diện tích đất mà bà A đã được cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 967241 của UBND thành phố P cấp ngày 15/8/2011; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 967673 của UBND thành phố P cấp ngày 13/10/2011; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 032436 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/6/2016 ; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 032435 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/6/2016; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 664303 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/4/2017, đăng ký biến động chủ sở hữu cho bà Đặng Thị Nguyệt A từ ngày 19/6/2019. Quyền sử dụng đất này là tài sản chung của vợ chồng bà A và ông Nguyễn Đức D.
Tổng cộng giá trị chuyển nhượng 04 thửa đất trên là 3.484.000.000đ; Tổng số tiền đặt cọc cho các hợp đồng chuyển nhượng nêu trên bà A đã nhận của ông T là 2.050.000.000₫;
Theo thỏa thuận khi nào bà A xin tách thửa được từng lô đất, xin cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ kí kết hợp đồng chuyển nhượng và nhận số tiền chuyển nhượng đất còn lại;
Tuy nhiên do thủ tục tách thửa đất không thực hiện được vì UBND tỉnh B đang tạm ngừng việc xin chuyển mục đích sử dụng đất và phân lô bán nền trên địa bàn toàn tỉnh Bình Thuận, đây là yếu tố khách quan khiến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không thực hiện được, chứ không phải là bà A không thực hiện việc tách thửa . Do vậy bà A đã trả cho ông T 200 triệu đồng tiền chuyển nhượng đất.
Nay Bị đơn chỉ đồng ý trả lại cho Nguyên đơn số tiền 1.850.000.000 đồng tiền đặt cọc chuyển nhượng đất ; Bị đơn không đồng ý trả cho Nguyên đơn khoản tiền lãi như Nguyên đơn đã yêu cầu.
Mặc dù các giao dịch chuyển nhượng đất nêu trên chỉ do một mình bà A kí kết với ông Bùi Bảo T nhưng tài sản chuyển nhượng là tài sản chung của vợ chồng nên vợ chồng bà sẽ liên đới trả lại cho Nguyên đơn số tiền 1.850.000.000 đồng nêu trên.
Về án phí : Bà A, ông D là người cao tuổi, và đã có đơn xin miễn án phí nên đề nghị xét miễn án phí theo quy định pháp luật .
*Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề xuất ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án như sau:
Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tiến hành các thủ tục thu thập chứng cứ và tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa có mặt đúng thành phần trong quyết định xét xử và đã tuân thủ đúng các quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Về phía người tham gia tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng và thực hiện đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án;
Về nội dung giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí, Bị đơn được miễn án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
* Về thủ tục tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn yêu cầu toà án giải quyết huỷ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đòi lại số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “ Tranh chấp về hợp đồng dân sự - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ; Địa chỉ của Bị đơn tại địa bàn thành phố P, do vậy vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố P, theo quy định tại khoản 03 điều 26, điểm a khoản 01 điều 35 và điểm a khoản 01 điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về việc vắng mặt Bị đơn – ông Nguyễn Đức D : Tòa án đã cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho Bị đơn - ông Nguyễn Đức D (Chồng bà Đặng Thị Nguyệt A), tại phiên tòa hôm nay chỉ có mặt bà A còn ông D vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 02 điều 227 và khoản 03 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông D.
*Về giải quyết nội dung tranh chấp:
[1] Xét yêu cầu của Nguyên đơn về việc hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký kết giữa ông và bà Đặng Thị Nguyệt A:
Xét các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/5/2019, hợp đồng ngày 24/5/2019, hợp đồng ngày 24/6/2019 để chuyển nhượng 04 lô đất với tên gọi theo sơ đồ tự phân lô của chủ sử dụng đất là : D1-23; D1-24; D1-25; D1-26, diện tích mỗi lô đất 100 m², loại đất trồng cây lâu năm, vị trí tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận;
[1.1] Về hình thức của hợp đồng: xét thấy hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký ghi rõ họ tên của các bên tham gia giao kết, mặc dù trên văn bản các bên tham gia ghi rõ là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng nội dung thỏa thuận là giao kết đặt cọc để chuyển nhượng đất, do vậy pháp luật quy định không bắt buộc phải công chứng chứng thực. Như vậy về mặt hình thức của hợp đồng là đảm bảo không trái quy định tại khoản 01, khoản 02 điều 119 Bộ luật dân sự.
[1.2] Về nội dung của hợp đồng: Các thửa đất chuyển nhượng nằm trong diện tích đất mà bà Đặng Thị Nguyệt A đã được cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 967241 của UBND thành phố P cấp ngày 15/8/2011; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 967673 của UBND thành phố P cấp ngày 13/10/2011; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 032436 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/6/2016 ; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 032435 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/6/2016; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 664303 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/4/2017, đăng ký biến động chủ sở hữu cho bà Đặng Thị Nguyệt A từ ngày 19/6/2019, đăng ký biến động chủ sở hữu cho bà Đặng Thị Nguyệt A từ ngày 19/6/2019 và đã được bà A xác nhận đây là tài sản chung của vợ chồng bà .
Số tiền đặt cọc bà A đã nhận của ông T cụ thể như sau :
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/6/2019 thửa đất D1-23, số tiền đặt cọc ông T đã giao cho bà A 400 triệu đồng;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/5/2019 thửa đất D1-24, số tiền đặt cọc ông T đã giao cho bà A 550 triệu đồng;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 06/5/2019 thửa đất D1-25 và thửa đất D1-26, số tiền đặt cọc ông T đã giao cho bà A 1.100.000.000 đồng;
Tổng cộng khoản tiền đặt cọc bà A đã nhận của ông Bùi Bảo T qua các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là 2.050.000.000₫.
Xét thấy khi chuyển nhượng đất bà A chưa có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và chưa được cho phép thực hiện dự án phân lô bán nền của cơ quan quản lý của tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên đây chỉ là giao kết đặt cọc nên thỏa thuận giao kết đặt cọc tại Hợp đồng giữa các bên cũng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội theo quy định tại điều 117, 118 Bộ luật dân sự .
Xét thấy sau khi nhận tiền cọc bà A đã không xin cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từng lô đất chuyển nhượng, do UBND tỉnh B đang tạm ngừng việc xin chuyển mục đích sử dụng đất và phân lô bán nền trên địa bàn toàn tỉnh Bình Thuận, nên từ tháng 07/2020 các bên thoả thuận không chuyển nhượng đất nữa và bà A đã trả cho ông T số tiền 200 triệu đồng, còn nợ lại số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 1.850.000.000đ, chưa thanh toán;
Các nội dung này trong quá trình giải quyết vụ án bà A và ông Bùi Bảo T xác nhận và đã khai thống nhất với nhau, nên đây là những tình tiết chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 02 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay bà Đặng Thị Nguyệt A vẫn chưa được cơ quan lý đất đai địa phương cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, tách thửa đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các lô đất chuyển nhượng cho ông T. Giao dịch chuyển nhượng đất tại các hợp đồng này, hiện nay vẫn chưa đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng, theo thỏa thuận giao kết đặt cọc tại các hợp đồng nêu trên, nên không thể thực hiện được trên thực tế, vì : Đất trồng cây hàng năm nhưng diện tích tối thiểu chuyển nhượng dưới hạn mức quy định của UBND tỉnh B;
Do vậy yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Bảo T yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên và buộc bà Đặng Thị Nguyệt A ông Nguyễn Đức D phải hoàn trả lại số tiền đặt cọc chưa thanh toán là 1.850.000.000₫ là có căn cứ.
Tuy nhiên theo quy định tại khoản 04 điều 422 Bộ luật Dân sự thì đây là việc chấm dứt hợp đồng chứ không phải hủy bỏ, bởi vì trên thực tế các bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ của mình, việc không tiếp tục thực hiện được hợp đồng là do yếu tố khách quan, chứ không phải do lỗi của các bên tham gia giao kết, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn tuyên bố chấm dứt các hợp đồng đặc cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên.
[2].Về yêu cầu tính lãi chậm trả trên số tiền cọc chưa thanh toán của Nguyên đơn:
Ông Bùi Bảo T yêu cầu bà A và ông D phải trả lãi suất chậm trả là 05% tính từ 01/8/2020 trên số tiền đặt cọc là 1.850.000.000đ chưa thanh toán (Vì ngày 31/7/2020 là ngày mà bà A hoàn trả 200 triệu tiền cọc đã nhận).
Bị đơn – bà Đặng Thị Nguyệt A không đồng ý trả lãi trên số tiền cọc chưa thanh toán với mức lãi suất là 05 %, với lý do bà hiện nay rất khó khăn về tài chính kinh tế, tuy nhiên bà xác định ngày bà trả lại tiền cọc cho ông Bùi Bảo T là ngày 31/7/2020, do vậy đây cũng là tình tiết không cần chứng minh theo quy định tại khoản 02 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Như vậy tại thời điểm giao trả lại tiền cọc 200 triệu đồng các bên đã thỏa thuận chấm dứt hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất, bên nhận cọc là bà A đã đồng ý trả lại tiền cọc cho bên đặt cọc là ông Bùi Bảo T, nhưng từ thời điểm từ 01/8/2020 cho đến nay bà A vẫn không giao trả lại tiền cọc, do vậy yêu cầu của ông T buộc bà A phải trả tiền lãi chậm trả với mức 05%/năm từ ngày 01/8/2020 cho đến thời điểm xét xử giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định tại các điều 357, 468 Bộ luật Dân sự, nên được Hồi đồng xét xử chấp nhận, cụ thể số tiền lãi chậm trả bị đơn phải trả cho Nguyên đơn như sau:
1.850.000.000₫ x 05%/năm x 04 năm (Thời gian tính tiền lãi tính từ tháng 01/8/2020 đến 31/7/2024 nguyên đơn chỉ tính chẵn là 04 năm, không tính lãi từ ngày 01 đến ngày 16/8/2024) = 370.000.000₫ .
Như vậy tổng cộng khoản tiền mà bà Đặng Thị Nguyệt A và ông Nguyễn Đức D phải trả cho ông Bùi Bảo T, tính đến thời điểm xét xử giải quyết vụ án (16/8/2024) là 1.850.000.000₫ + 370.000.000₫ = 2.220.000.000₫.
[4]Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí sơ thẩm dân sự, theo quy định tại khoản 01 điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự. Hoàn trả lại cho Nguyên đơn – Ông Bùi Bảo T khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 44.500.000đ, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001446 ngày 27/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn bà Đặng Thị Nguyệt A và ông Nguyễn Đức D là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 01 điều 12 Nghị quyết 326 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội .
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/Căn cứ vào các quy định tại khoản 03 điều 26, điểm a khoản 01 điều 35 và điểm c khoản 01 điều 39, khoản 01 điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015,điều 117, 118, 119, khoản 02 điều 422, điều 357, 468 Bộ luật dân sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật thi hành án dân sự.
2/Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn –, cụ thể như sau:
[2.1] Tuyên bố chấm dứt các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 06/5/2019, hợp đồng ngày 24/5/2019, hợp đồng ngày 24/6/2019, được ký kết giữa ông Bùi Bảo T và Đặng Thị Nguyệt A về việc chuyển nhượng 04 lô đất với tên gọi theo sơ đồ tự phân lô của chủ sử dụng đất là : D1-23; D1-24; D1-25; D1-26, diện tích mỗi lô đất 100 m², loại đất trồng cây lâu năm,vị trí tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Các thửa đất chuyển nhượng nằm trong diện tích đất mà bà Đặng Thị Nguyệt A đã được cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 967241 của UBND thành phố P cấp ngày 15/8/2011; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 967673 của UBND thành phố P cấp ngày 13/10/2011; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 032436 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/6/2016 ; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 032435 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 29/6/2016; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 664303 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/4/2017, đăng ký biến động chủ sở hữu cho bà Đặng Thị Nguyệt A từ ngày 19/6/2019, đăng ký biến động chủ sở hữu cho bà Đặng Thị Nguyệt A từ ngày 19/6/2019 .
[2.2] Tuyên buộc bà Đặng Thị Nguyệt A và ông Nguyễn Đức D phải liên đới trả lại cho ông Bùi Bảo T khoản tiền cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 1.850.000.000₫ (Một tỷ tám trăm năm mươi triệu đồng ), và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 01/8/2020 đến thời điểm giải quyết xét xử vụ án là tháng 16/8/2024 (Tính chẵn 04 năm) là 370.000.000₫ ( Ba trăm bảy mươi triệu đồng); Tổng cộng khoản tiền bà Đặng Thị Nguyệt A và ông Nguyễn Đức D phải liên đới trả lại cho ông Bùi Bảo T là 2. 220.000.000₫ (Hai tỷ hai trăm hai mươi triệu đồng chẵn)
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngày 17/08/2024 cho đến khi thi hành xong khoản tiền còn phải thi hành án, bà Đặng Thị Nguyệt A và ông Nguyễn Đức D vẫn phải chịu tiền lãi chậm trả trên số tiền phải thi hành án với mức lãi suất là 05%/năm .
[4] Về án phí :
Nguyên đơn không phải chịu án phí có giá nghạch do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Hoàn trả lại cho Nguyên đơn – Ông Bùi Bảo T khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 44.500.000đ, theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001446 ngày 27/3/2024 của C4 cu54c thi hành án dân sự thành phố P tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn - Bà Đặng Thị Nguyệt A và ông Nguyễn Đức D là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 01 điều 12 Nghị quyết 326 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội .
[5] Án xử sơ thẩm công khai có mặt Nguyên đơn, Bị đơn- Bà Đặng Thị Nguyệt A, Bị đơn – Ông Nguyễn Đức D vắng mặt. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn, bị đơn có ặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo bản án của Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Như Xuân |
Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng dân sự - chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 98/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự - chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn
