Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-8-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Binh
  2. Bà Nguyễn Thị Bình;

-Thư ký phiên tòa:Tô Văn Liên-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng– Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 274/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24/6/2024, về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 158/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 6/8/2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1999. Có mặt.
  2. Địa chỉ: Số A T, khu phố C, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bị đơn: Anh Lê Phước K, sinh 1994. Vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Số E đường số G, thôn F, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 12/6/2024, cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H trình bày: Chị H và anh Lê Phước K kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 4 năm, thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên do là anh K đi chơi với bạn bè, không lo cho gia đình; nếu chị H nói đến là anh K chửi bới, đập phá đồ đạt, dọa đánh vợ, con. Do cuộc sống không có tiếng nói chung, nên chị H nói với gia đình là ly hôn với anh K, thì mẹ anh K nói nếu ly hôn được thì ly hôn, mẹ anh K cũng không khuyên bảo được anh K. Từ ngày 12/6/2024 chị H về nhà mẹ ruột ở và ly thân anh K cho đến nay. Do không còn tình cảm, nên chị H yêu cầu ly hôn với anh K. Chị H và anh K có 02 con chung: Lê Bảo Â, sinh ngày 29/10/2017 và Lê Bảo T, sinh ngày 13/11/2020, các con hiện sống với chị H. Nếu ly hôn chị H yêu cầu nuôi cả 02 con và yêu cầu anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con 01 tháng 2.000.000 đồng. Tài sản không tranh chấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh K không tham gia tố tụng, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh K về nội dung khởi kiện của chị H và cũng không hòa tiến hành hòa giải để hai bên trở về đoàn tụ được. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho anh K biết. Tuy nhiên, đến hôm nay anh K vẫn không có phản đối hay có kiến gì về khởi kiện của chị H.

Qua xác minh cho thấy vợ chồng chị H và anh K hiện không còn chung sống với nhau, vợ chồng đã sống ly thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định, Thư ký phiên tòa thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai, nên xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao con cho nguyên đơn nuôi và bị đơn cấp dưỡng là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:

  1. Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung, yêu cầu tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và Khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  4. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H và anh Lê Phước K kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ vào năm 2017. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn. Do anh K sử dụng chất kích thích, không lo làm ăn để chăm lo hạnh phúc gia đình, không lo cho con cái. Từ đó cuộc sống không còn hạnh phúc nên chị H đã đưa các con về nhà mẹ chị H ở từ mấy tháng nay, anh K cũng không quan tâm, níu kéo hạnh phúc gia đình. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  5. Về tranh chấp nuôi con: Chị H và anh K có 02, các cháu hiện sống cùng với chị H. Xét thấy chị H có sức khỏe, công việc và thu nhập đảm bảo cho việc nuôi con tốt, còn anh K không có công việc ổn định, nếu giao con cho anh K thì không đảm bảo cho việc học hành và phát triển của các cháu. Do đó nên giao cho chị H nuôi dưỡng cả 02 con là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
  6. Về cấp dưỡng: Việc chị H nuôi con và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho 01 con là phù hợp, nên chấp nhận.
  7. Về tài sản: các đương sự không tranh chấp.
  8. Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, bị đơn chịu án phí về cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  9. Về kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 15 Luật Trẻ em; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Kim H ly hôn anh Lê Phước K.
  2. Về nuôi con: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con: Lê Bảo Â, sinh ngày 29/10/2017 và Lê Bảo T, sinh ngày 13/11/2020. Anh Lê Phước K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Buộc anh Lê Phước K có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 con: Lê Bảo Â, sinh ngày 29/10/2017 và Lê Bảo T, sinh ngày 13/11/2020; mỗi con 01 tháng là 2.000.000 đồng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 9/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
  4. Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Kim H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Lê Phước K chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Phần cấp dưỡng nuôi con có hiệu lực thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, kiến nghị.

  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004635 ngày 24/6/2024. Chị H đã nộp đủ án phí. Anh Lê Phước K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng.
  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/8/2024), bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh;
  • -VKSND huyện;
  • -CCTHADS huyện;
  • -Đương sự;
  • -Lưu./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do anh K nghiện ma túy, không lo làm ăn nên chị H yêu cầu được ly hôn và dành quyền nuôi con.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger