Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Trần Thị Thanh Nga
  • 2/ Bà Đặng Thị Ngọc Diệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Phan Anh P; Tên gọi khác: L; Giới tính: Nam, Sinh năm 2002 tại tỉnh Bình Thuận, Nơi cư trú: khu phố D, phường L, TP ., tỉnh Bình Thuận, Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Phan Anh C, sinh năm 1982; Mẹ: Nguyễn Thị Bé L1, sinh năm 1984; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • Ngày 08/02/2021 Chủ tịch UBND thành phố P ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (theo Quyết định số 24/QĐ-UBND). Chấp hành xong ngày 08/5/2021.
  • Ngày 09/7/2021 TAND thành phố Phan Thiết ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Quyết định số 44/QĐ-TA), hiện chưa thi hành.
  • Ngày 12/12/2022, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 223/2022/HSST.
  • Ngày 17/01/2023, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 24/2023/HS-ST. Tổng hợp với hình phạt 05 năm 06 tháng tù của bản án số 223/2022/HSST, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 11 năm tù.
  • Ngày 25/12/2023, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 254/2023/HS-ST. Tổng hợp với hình phạt 11 năm tù của bản án số 24/2023/HS-ST, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 12 năm tù. Hiện P đang chấp hành án phạt tù tại trại giam X vào ngày 23/9/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

2. Lê T; Tên gọi khác: B; Giới tính: Nam; Sinh năm 1985 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố F, phường Đ, TP ., tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Lê C1, sinh năm 1956; Mẹ: Lê Thị T1, sinh năm 1957; Anh chị em ruột: có 06 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Võ Thị Mỹ V, sinh năm 1990; Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • Ngày 09/8/2019, Công an thành phố P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định số 0010521. Đã nộp phạt.
  • Ngày 06/5/2004, TAND tỉnh Bình Thuận xử phạt 39 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại bản số 30/HSPT. Ngày 23/7/2006, chấp hành xong hình phạt tù.
  • Ngày 29/3/2023, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại bản án số 67/2023/HSST, Hiện đang chấp hành án phạt tù tại trại giam T2 vào ngày 04/7/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

  • 1/ Anh Phạm Khánh D - sinh năm: 2002 (Vắng mặt)
  • Trú tại: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • 2/ Anh An Hải Đ - sinh năm: 1994 (Vắng mặt)
  • Trú tại: khu phố A, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 01/01/2020, Lê T cùng An Hải Đ đến nhà Nguyễn Văn H là cậu của P ở khu phố D, phường L, thành phố P chơi thì gặp Phan Anh P. Tại đây, P, TĐ ngồi chơi được một lúc thì Đ gọi điện thoại cho Phạm Khánh D cùng đến chơi.

Thấy D có 01 điện thoại hiệu OPPO CPH1969-F11 Pro128GB và Đ có 01 điện thoại hiệu SAMSUNG J5 nên P nảy sinh ý định lấy điện thoại của ĐD đem cầm thế lấy tiền tiêu xài nên đến khoảng 01 giờ ngày 02/01/2020, P rủ T ra trước nhà của H, P nói với T: “tìm cách lấy điện thoại của Đ để bán lấy tiền tiêu xài”, T đồng ý và nói hẹn gặp nhau tại đường P thuộc khu phố D, phường L, thành phố P. Sau khi nói chuyện xong, P đi vào nhà H, gặp Đ thì P nói: “Anh Đ cho em mượn điện thoại chơi game”, Đăng tưởng là thật nên Đ đưa điện thoại hiệu S J5 cho P. P cầm điện thoại của Đ vừa chơi game vừa đi bộ ra đường P gặp T, T nói đưa điện thoại của Đ cho T để T đem cầm thế, P nói tiếp vào lấy điện thoại của D đem cầm thế luôn vì điện thoại của D còn mới. T nói với PT không quen D nên T nói P đi vào tìm cách lấy điện thoại của D, P đồng ý rồi quay lại nhà của H, P gặp Đ nói “điện thoại anh Đ bị Công an phường giữ rồi, kêu D đưa điện thoại em gọi bà ngoại lên chuộc điện thoại”, D đang ngồi gần đó nói “lấy điện thoại tao gọi đi, lấy điện thoại về cho anh Đ” và D đưa P chiếc điện thoại hiệu OPPO CPH1969-F11 Pro128GB cho P, P giả vờ vừa đi vừa gọi rồi đi thẳng ra đường P gặp T thì PT bắt xe taxi đến gặp 01 người tên B1 (chưa rõ nhân thân) ở phường P, thành phố P cầm thế 01 điện thoại OPPO CPH1969-F11 Pro128GB của D được 1.500.000 đồng, PT chia nhau mỗi người được 750.000 đồng, còn điện thoại SamSung J5 thì T lấy về nhà để sử dụng chơi game, sau đó đã trả lại cho Đ.

Khoảng 07 giờ ngày 02/01/2020, không thấy P trả điện thoại nên D đến Công an phường L trình báo sự việc.

Vật chứng của vụ án:

  • - Chiếc điện thoại hiệu OPPO CPH1969-F11 Pro128GB: không thu hồi được.
  • - Chiếc điện thoại hiệu S J5, sau khi T trả lại Cho Đ, Đ sử dụng một thời gian thì bị hư nên Đ không sử dụng điện thoại trên, đã vứt bỏ nên không thu hồi được.

Tại kết luận định giá tài sản số 58 ngày 09/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:

Điện thoại di động hiệu OPPO CPH1669-F11 Pro128GB, màu đen, số IMEI 863980044656550, vào thời điểm ngày 02/01/2020 có giá trị 7.767.878 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 50 ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận:

Điện thoại di động hiệu SAMSUNG J5, màu xanh đen, đã qua sử dụng, vào thời điểm ngày 02/01/2020, không xác định được giá trị tài sản.

Về dân sự:

Phạm Khánh DAn Hải Đ không yêu cầu Phan Anh P, Lê T bồi thường gì về dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Phan Anh PLê T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Anh P mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù và tổng hợp hình phạt 12 năm tù tại bản án số 254/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù và tổng hợp hình phạt 01 năm tù tại bản án số 67/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Về phần dân sự: Phạm Khánh DAn Hải Đ không yêu cầu Phan Anh P, Lê T bồi thường gì về dân sự nên không xem xét.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và hứa sẽ trở thành công dân tốt, tuân theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai phạm tội của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 02/01/2020, tại nhà của Nguyễn Văn H tại khu phố D, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Phan Anh PLê T có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt 01 điện thoại hiệu OPPO CPH1969-F11 Pro128GB, trị giá 7.767.878 đồng của Phạm Khánh D và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 (không xác định được giá trị tài sản) của An H, cả hai đem chiếc điện thoại di động hiệu OPPO CPH1969-F11 Pro128GB cầm thế lấy số tiền 1.500.000 đồng tiêu xài thì bị phát hiện. Do vậy, Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Phan Anh PLê T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo cho thấy, các bị cáo ý thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ thế nhưng chỉ vì cần tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt. Trong vụ án này có sự đồng phạm giản đơn và hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình nhằm để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo có nhân thân rất xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Anh Phạm Khánh D và Anh An Hải Đ không yêu cầu Phan Anh P, Lê T bồi thường gì về phần dân sự nên không xem xét.

[7] Bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Phan Anh P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt: Phan Anh P 01 (một) năm tù và tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 254/2023/HS-ST ngày 25/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23/9/2022.

  2. Căn cứ: khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Lê T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt: Lê Tùng 09 (chín) tháng tù và tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số số 67/2023/HS-ST ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/7/2023.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Anh P, bị cáo Lê T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/5/2024), bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - VKSND tp. Phan Thiết
  • - Công an tp. Phan Thiết
  • - Người tham gia tố tụng
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú.
  • - Chi cục THADS tp.Phan Thiết
  • - Cổng TTĐT TANDTC
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Lưu Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger