Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAM RANH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-ST

Ngày: 13/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Mai Như Chi
  • Ông Nguyễn Bình Nam

- Thư ký phiên tòa:

Bà Dương Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đình Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng B - sinh ngày 07 tháng 01 năm 1990, tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, nghề nghiệp: Thợ sắt; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng L và bà Nguyễn Thị L1; vợ, con: chưa.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Không

Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Lê Thị Bảo H, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Chí T, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Hữu P, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).
  2. Ông Nguyễn Hoàng H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường B, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 15/01/2024, Nguyễn Hồng B điều khiển xe mô tô 79K1-062.51 đi tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến Trạm y tế phường C ở tổ dân phố N, phường C, thành phố C; Bộ dựng xe ở bên ngoài, leo qua hàng rào vào phòng trực Trạm y tế phường C để trộm cắp tài sản. Lúc này, B thấy chị Lê Thị Bảo H (nhân viên) đang ngủ tại phòng trực, Bộ lấy trộm điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, màu trắng và 40.000 đồng của chị H rồi bỏ đi. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, Bộ nhờ anh trai là Nguyễn Hoàng H1 đi cầm thế điện thoại trên. H1 đồng ý. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, H1 đến tiệm điện thoại của anh Phạm Chí T ở tổ dân phố H, phường B, thành phố C cầm thế cho anh Phạm Hữu P (em trai T) với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, H1 đưa 1.500.000 đồng cho Bộ T1 hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 01 điện thoại di động hiệu S A31, màu trắng, trị giá 2.760.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 điện thoại di động S đã trả lại cho chị Lê Thị Bảo H.
  • Xe mô tô 79K1-06251 đã trả lại ông Nguyễn Hoàng L.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Đối với Nguyễn Hoàng H1 có hành vi cầm thế điện thoại cho Phạm Hữu P. Tuy nhiên, H1 và P không biết là tài sản do Bộ P1 mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKSCR ngày 29 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử Nguyễn Hồng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, tuyên phạt bị cáo từ 06 (Sáu ) đến 09 (Chín) tháng tù.

Vật chứng vụ án:

  • 01 điện thoại di động S đã trả lại cho chị Lê Thị Bảo H.
  • Xe mô tô 79K1-06251 đã trả lại ông Nguyễn Hoàng L.

Nên đề nghị Tòa không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Đề nghị Tòa không xem xét.

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh đã nêu và cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự,

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định:

Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại Trạm y tế phường C ở tổ dân phố N, phường C, thành phố C, bị cáo Nguyễn Hồng B đã có hành vi vào Trạm y tế phường và lén lút trộm cắp tài sản của bà Lê Thị Bảo H là 01 điện thoại di động hiệu S A31, màu trắng, trị giá 2.760.000 đồng và 40.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Hồng B đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát thành phố C đối với bị cáo Nguyễn Hồng B là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo, sớm hòa nhập cộng đồng làm công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về vật chứng vụ án:

01 điện thoại di động S đã trả lại cho chị Lê Thị Bảo H. Xe mô tô 79K1-06251 đã trả lại ông Nguyễn Hoàng L. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
  • Điều 292, Điều 293, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng B 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố Cam Ranh;
  • - Công an thành phố Cam Ranh ;
  • - Chi cục THA dân sự TP.Cam Ranh;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ THA;
  • - Lưu: VT, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 98/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hồng B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger