TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 98/2024/HS-ST Ngày 13-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Cần.
Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Hiền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Hồ Văn Trí D, sinh năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số I, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn N và bà Huỳnh Thị L; tiền sự: không;
Tiền án: ngày 27/01/2021, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 35/2021/HSST (BL 94); chấp hành xong hình phạt ngày 12/9/2022 (BL 92); chấp hành xong án phí ngày 10/11/2022 (BL 91, 97).
Nhân thân:
Ngày 24/8/1999, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án số 1849/HSST (BL 80); chấp hành xong hình phạt ngày 06/01/2000 (BL 71). Về án phí hình sự sơ thẩm: ngày 14/8/2000, Phòng Thi hành án (nay là Cục Thi hành án ) Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định ủy thác thi hành án dân sự số 1133/ UTTHA ủy thác cho Đội Thi hành án Quận 2 (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức) thi hành đối với phần án phí hình sự sơ thẩm (BL 85). Ngày 23/01/2024, Đội Thi hành án Quận 2 (nay là Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức) ban hành Công văn số 804/CV-CCTHADS trả lời không nhận được quyết định ủy thác của Phòng Thi hành án (nay là Cục Thi hành án ) Thành phố Hồ Chí Minh cũng như không thụ lý và tổ chức thi hành đối với Bản án số 1849/HSST ngày 24/8/1999 (BL 90).
Ngày 21/02/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 174/2017/HSST ngày 27/7/2017 (BL 76); chấp hành xong hình phạt ngày 21/8/2018 (BL 70), chấp hành xong án phí ngày 23/10/2017 (BL 93).
Ngày 27/9/2016, bị Ủy ban nhân dân phường T, thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 599/QĐ; ngày 27/12/2016 đã chấp hành xong.
Ngày 29/8/2023, bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Lê Thị Q, sinh năm 1976; nơi thường trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre; nơi tạm trú: phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1943, nơi cư trú: số I, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng: bà Huỳnh Thị Khánh N1; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồ Văn Trí D là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 29/8/2023, D điều khiển xe mô tô biển số 61D2 – 290.43 đi từ nhà thuộc phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương đến nhà người quen tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để hỏi công việc. Khi đi đến khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, D thấy bà Huỳnh Thị Khánh N1 đang điều khiển xe mô tô biển số 84M1 – 162.22 chở bà Lê Thị Q đang bế con của bà N1 trên tay lưu thông cùng chiều với D, trên cổ bà Q đeo 01 sợi dây chuyền kim loại màu vàng. Lúc này, D điều khiển xe áp sát vào bên trái xe mô tô biển số 84M1 – 162.22 rồi dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên cổ bà Q, bà Q liền chụp tay của D giằng co qua lại khoảng 05m thì cả 02 xe ngã xuống đường, còn sợi dây chuyền bị đứt và rơi xuống đất. Sau đó, bà Q và bà N1 truy hô nên D bị lực lượng tuần tra Công an phường T đang đi tuần tra bắt giữ, đưa về trụ sở để làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng, trọng lượng 23,4626 gam, loại vàng 16K; 01 xe mô tô biển số 61D2 – 290.43; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe một tô biển số 61D2 – 290.43, 01 căn cước công dân mang tên Hồ Văn Trí D, 01 áo khoác màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 nón kết cà phê sữa.
Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 26/KL – HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng; trọng lượng 23,4626 gam; loại vàng 16K đã qua sử dụng tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 23.157.586 đồng.
Cáo trạng số 107/CT-VKS.TU ngày 08/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hồ Văn Trí D về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: rút một phần quyết định của cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hồ Văn Trí D từ 05 năm tù đến 06 năm tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 nón kết màu cà phê sữa thu giữ của bị cáo do bị cáo không có nhu cầu nhận; trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân tên Hồ Văn Trí D.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Bị cáo trình bày ý kiến tranh luân: thống nhất luận tội của đại diện Viện Kiểm sát và không có ý kiến trình bày.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hai không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ảnh dựng lại hiện trường, trích xuất hình ảnh các tập tin video, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 29/8/2023, tại khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Hồ Văn Trí D có hành vi sử dụng xe mô tô làm phương tiện để cướp giật 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng của bà Lê Thị Q khi bà Q đang ngồi phía sau xe mô tô do bà Huỳnh Thị Khánh N1 điều khiển tham gia giao thông.
Hành vi của nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự nên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo điều khiển xe mô tô áp sát vào những người đang lưu thông trên đường để cướp giật tài sản và nhanh chóng tẩu thoát là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn có thể gây ra các hệ lụy xã hội khác như tai nạn giao thông, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người đang tham gia giao thông. Bị cáo biết bị hại đang bế em bé trên tay nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi cướp giật tài sản đến cùng thể hiện sự táo bạo, liều lĩnh, bất chấp mọi hậu quả xảy ra. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân nên cần phải xử mức hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, trừng trị đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Ngày 27/01/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 35/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 19/9/2022, chấp hành xong án phí ngày 10/11/2022 nhưng chưa hết thời gian được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới nên bị áp dụng tính tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Nhân thân
Bị cáo đã 02 lần bị Tòa án xét xử tại Bản án số 1849/HSST ngày 24/8/1999 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án số 174/2017/HSST ngày 27/7/2017 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; 01 lần bị Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Điều đó cho thấy bị cáo không biết sửa đổi, khắc phục hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của mình để làm người lương thiện, sống có ích cho xã hội mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự
Bị hại Lê Thị Q đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[9] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 01 áo khoác màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 nón kết màu cà phê sữa thu giữ của bị cáo, do bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 căn cước công dân tên Hồ Văn Trí D là tư vật của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng; trọng lượng 23,4626 gam; loại vàng 16K là vật chứng trong vụ án và là tài sản của bị hại đã thu hồi được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị hại là đúng quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Đối với 01 xe mô tô biển số 61D2 – 290.43 do bà Huỳnh Thị L (là mẹ ruột của bị cáo) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà L cho bị cáo D mượn xe để làm phương tiện đi lại và bà không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện cướp giật tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho bà L là đúng quy định tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[10] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hồ Văn Trí D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hồ Văn Trí D 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/8/2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 nón kết màu cà phê sữa.
Trả lại cho bị cáo Hồ Văn Trí D: 01 căn cước công dân tên Hồ Văn Trí D (Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08 tháng 4 năm 2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Hồ Văn Trí D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 98/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản (criminal case)
- Số bản án: 98/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
