|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 98/2024/DS-ST Ngày: 12-7-2024 V/v Tranh chấp về nợ hụi và hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Phước Tâm.
- Ông Lê Đình Thủ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Lê Thị M - sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Chí C - sinh năm 1991 và chị Nguyễn Thị N (tên thường gọi: Nguyễn Bích N1) - sinh năm 1995; Cùng cư trú: Tổ A, ấp B, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 252/12/2023, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày như sau:
- Giữa bà M và vợ chồng Nguyễn Chí C là chỗ thân quen với nhau (do C là cháu chồng của bà M) nên bà đã nhiều lần cho vợ chồng C vay tiền để làm vốn làm ăn. Tuy nhiên, do vợ chồng C không trả tiền vay cho bà đúng hạn nên C và vợ là Nguyễn Thị N đã xác lập giấy tay ngày 30/4/2023 với nội dung có mượn Mợ 6 (tức bà M) số tiền 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng. Vợ chồng C hứa mỗi tháng sẽ trả cho bà M 10.000.000 đồng nhưng từ khi viết giấy nợ đến nay thì vợ chồng C vẫn không thực hiện trả tiền cho bà.
- Ngoài ra, vợ chồng C còn tham gia (hụi viên) nhiều dây dây hụi do bà làm chủ hụi, hai dây hụi gần dây nhất là:
+ Dây hụi 3.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/6/2022 (âm lịch), gồm có 25 phần, C tham gia 01 phần, đã hốt hụi ngày 10/02/2023 (âm lịch); sau khi hốt hụi C không đóng hụi đúng thỏa thuận, hiện còn nợ tiền hụi 09 tháng, mỗi tháng 3.000.000 đồng với tổng số tiền là 27.000.000 đồng.
+ Dây hụi 5.000.000 đồng/tháng, khui ngày 15/6/2022 (âm lịch), gồm có 25 phần, C tham gia 01 phần, đã hốt hụi ngày 15/9/2022 (âm lịch); sau khi hốt hụi C không đóng hụi đúng thỏa thuận, hiện còn nợ tiền hụi 09 tháng, mỗi tháng 5.000.000 đồng với tổng số tiền là 45.000.000 đồng.
+ Còn các dây hụi vợ chồng C đã tham gia trước đó thì bà M không nhớ cụ thể, số tiền hai bên thỏa thuận vợ chồng C còn nợ làm tròn là 48.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi mà vợ chồng C còn nợ của bà là 120.000.000 đồng, trong đó 72.000.000 đồng của dây hụi khui ngày 10/6/2022 (âm lịch) và ngày 15/6/2022 (âm lịch); số tiền còn lại 48.000.000 đồng là của các dây hụi khui trước đó.
Đến tháng 11/2023 (âm lịch), vợ chồng anh C không còn khả năng trả nợ nên đã xác lập giấy nợ cho bà M với nội dung vợ chồng anh C có thiếu Mợ sáu (tức bà M) số tiền 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng.
Nay bà M yêu cầu anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà M tổng số tiền là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng (trong đó 120.000.000 đồng tiền hụi và 130.000.000 đồng tiền vay), bà M không yêu cầu lãi suất.
* Bị đơn anh Nguyễn Chí C, chị Nguyễn Thị N cùng trình bày như sau:
Trước đây, anh có tham gia nhiều dây hại do M1 sáu là bà Lê Thị M làm chủ hụi, các dây hụi hầu hết đã mãn hụi, chỉ riêng có 02 dây hụi ngày 15/6/2022 âm lịch và dây hụi ngày 15/9/2022 (âm lịch) là chưa mãn (còn đến tháng 5/2024 mãn hụi). Các dây hụi đã mãn thì anh vẫn chưa thực hiện xong nghĩa vụ đóng hụi chết, hiện còn thiếu bà M số tiền khoảng 40.000.000 đồng.
Riêng hai dây hụi chưa mãn thì anh thừa nhận có hốt hụi và có đóng hụi chết đầy đủ cho bà M đến tháng 9/2023 âm lịch, từ tháng 10/2023 đến nay thì anh vẫn chưa đóng. Tổng số tiền còn thiếu của hai đây hụi là 72.000.000 đồng như lời trình bày của bà M.
Sau đó, vợ chồng anh C tiếp tục tham gia dây hụi 5.000.000 đồng của bà M khui ngày 25/8/2023 âm lịch, anh C đóng hụi được 02 lần với số tiền 7.600.000 đồng, anh C xin hốt hại tại kỳ thứ 3 để trả nợ thì được bà M đồng ý. Tuy nhiên, bà M yêu cầu vợ chồng anh C phải viết giấy nợ cộng tất cả các khoảng nợ hại và kể cả khoảng nợ của dây hụi chết ngày 25/8/2023 âm lịch. Vợ chồng anh cũng đồng ý viết giấy nhận nợ còn thiếu của bà M tổng số tiền 250.000.000 đồng. Sau khi viết giấy xong thì bà M đổi ý không cho vợ chồng anh hốt hụi và cũng không cho vợ chồng anh tiếp tục tham gia dây hụi khui ngày 25/8/2023 nữa và bà M cũng đã lấy lại số hụi; tuy nhiên, đến nay bà M vẫn chưa trả lại số tiền đã đóng là 7.600.000 đồng cho vợ chồng anh C.
Đối với tờ biên nhận mà bà M giao nộp thì anh thừa nhận vợ chồng anh viết và ký tên, tên trong biên nhận là Nguyễn Chí C - sinh năm 1990 và vợ là Nguyễn Bích N1 - sinh năm 1993 nhưng thực tế thì năm sinh của anh C là 1991 và vợ anh tên là Nguyễn Thị N - sinh năm 1995. Đối với tờ giấy viết tay ngày 30/4/2023 mà bà M giao nộp thì vợ chồng anh C thừa nhận là đúng, vợ chồng anh có vay của bà M số tiền 130.000.000 đồng nhưng số tiền này anh đã trả xong cho bà M vào ngày 30/8/2023 nhưng anh C chưa lấy lại biên nhận và cũng không có gì chứng minh đã trả tiền cho bà M.
Nay vợ chồng anh C, chị N không đồng ý theo yêu cầu của bà M, anh chị chỉ đồng ý trả cho bà M số tiền hụi còn thiếu là 137.000.000 đồng (một trăm ba mươi bảy triệu đồng). Ngoài ra giữa vợ chồng anh và bà M không có thỏa thuận vay tiền gì với nhau.
Đồng thời, anh C và chị N yêu cầu bà M phải có trách nhiệm trả lại số tiền đã đóng hụi 02 lần là 7.600.000 đồng của dây hụi khui ngày 25/8/2023 âm lịch.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn đã cung cấp cấp tài liệu, chứng cứ bao gồm bản sao sổ hụi ngày 10/6/2022 (âm lịch) và 15/6/2022 (âm lịch), bản gốc giấy nợ viết tay, bản gốc biên nhận nợ ngày 30/4/2023; Bị đơn giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm bản gốc sổ hụi ngày 10/6/2022 (âm lịch) và 15/6/2022 (âm lịch), tờ giấy lịch block BIDV mặt sau có ghi chữ và số màu xanh không xác định được nội dung, tờ giấy nhãn hiệu “Thành Đạt” có ghi chữ và số màu xanh, không xác định được nội dung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và nợ hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 Bộ luật dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Do nơi cư trú bị đơn ở xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà M tổng số tiền là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng (trong đó 120.000.000 đồng tiền hụi và 130.000.000 đồng tiền vay), bà M không yêu cầu lãi suất; Hội đồng xét xử nhận định:
[4]. Xét hợp đồng vay tài sản giữa bà Lê Thị M và anh Nguyễn Chí C, chị Nguyễn Thị N, bà M trình bày giữa bà và vợ chồng anh C có thỏa thuận vay số tiền 130.000.000 đồng để vợ chồng anh C phát triển kinh tế gia đình, căn cứ vào Tờ giấy viết tay đề ngày 30/4/2023 đã thể hiện đúng như lời trình bày của bà M. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, anh C và chị N thừa nhận có vay số tiền 130.000.000 đồng của bà M vào ngày 30/4/2023. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
[5] Anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N còn trình bày đối với số tiền 130.000.000 đồng đã vay của bà M thì anh chị đã trả xong vào ngày 30/8/2023 nhưng anh C cho rằng chưa lấy lại bản gốc giấy nợ và cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc trả nợ cho bà M nên không có căn cứ để xem xét.
[6] Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hợp đồng vay giữa hai bên đương sự là có thật nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm liên đới trả lại số tiền vay là 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng nêu trên là có căn cứ chấp nhận.
[7] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về nợ hụi, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ bao gồm Sổ hụi ngày 10/6/2022 âm lịch và Sổ hụi ngày 15/6/2022 âm lịch đã thể hiện anh C có tham gia hai dây hụi này, dây hụi khui ngày 10/6/2022 âm lịch với số tiền 3.000.000đ/tháng; dây hụi khui ngày 15/6/2022 âm lịch với số tiền 5.000.000đ/tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị đơn thừa nhận có tham gia hai dây hụi nêu trên do bà M (tên thường gọi là M1 sáu) làm chủ hụi, hai dây hụi này các bị đơn đã hốt hụi xong và có đóng hụi chết cho bà M nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đến nay vẫn còn thiếu 09 tháng hụi chết của mỗi dây hụi, tổng số tiền của hai dây hụi này thì bị đơn còn thiếu số tiền 72.000.000 (bảy mươi hai triệu) đồng.
[8] Ngoài ra, bị đơn còn trình bày ngoài hai dây hụi ngày 10/6/2022 và 15/6/2022 nêu trên thì bị đơn còn tham gia nhiều dây hụi trước đó của bà M, các dây hụi này hiện đã mãn nhưng mỗi dây hụi cũng đều có thiếu tiền hụi chết của bà M, theo lời trình bày của bị đơn tại Bản trình bày ý kiến thì số tiền hụi còn thiếu là 70.000.000 đồng, tại phiên hòa giải thì bị đơn cho rằng chỉ còn thiếu tiền hụi của các dây hụi trước đó khoảng 40.000.000 đồng, như vậy trong lời trình bày của bị đơn thì cũng đã có sự mâu thuẫn với nhau. Tại phiên tòa, bị đơn xác định số tiền hụi còn thiếu của bà M của các dây hụi trước là 70.000.000 đồng.
[9] Như vậy, tổng số tiền hụi của tất cả các dây hụi thì bị đơn còn thiếu tổng số tiền là 142.000.000 đồng (trong đó 72.000.000 đồng của dây hụi ngày 10/6/2022 và ngày 15/6/2022; 70.000.000 đồng của các dây hụi trước đó).
[10] Đối với tờ giấy nợ viết tay mà nguyên đơn giao nộp thì bị đơn thừa nhận là đúng, bị đơn có ký nhận số tiền nợ của bà M là 250.000.000 đồng nhưng bị đơn cũng giải thích toàn bộ số tiền 250.000.000 đều là tiền hụi chứ không bao gồm tiền hụi và tiền vay như lời trình bày của bà M. Bị đơn giải thích số tiền trong giấy nợ 250.000.000 đồng bao gồm tiền hụi của hai dây hụi ngày 10/6/2022 và ngày 15/6/2022 là 67.000.000 đồng, tiền các dây hụi cũ trước là 70.000.000 đồng, tiền dây hụi mới ngày 25/8/2023 âm lịch 105.000.000 đồng mà bị đơn chưa được hốt hụi, tiền hoa hồng 2.000.000 đồng và 6.000.000 đồng là tiền lãi số số tiền hụi 70.000.000 đồng.
[11] Đối với dây hụi ngày 25/8/2023 âm lịch, các đương sự thừa nhận có tồn tại dây hụi này, bị đơn cũng đã có tham gia 01 phần và đã đóng được 02 kỳ với số tiền là 7.600.000 đồng. Bị đơn cho rằng đến kỳ thứ 3 thì bị đơn xin hốt hụi để trả nợ thì bà M đồng ý nhưng bà M buộc các bị đơn phải viết giấy nợ số tiền hụi chết phải đóng cho đến mãn hụi và cộng tất cả số tiền còn thiếu của các dây hụi trước làm tròn là 250.000.000 đồng thì bị đơn đồng ý và ký tên vào giấy nợ. Nguyên đơn thì cho rằng dây hụi này bà có cho bị đơn tham gia nhưng không cho hốt hụi nhằm mục đích dùng số tiền hốt hụi để trả nợ, sau đó thì nguyên đơn cũng quyết định không cho bị đơn tiếp tục tham gia dây hụi này nhưng vẫn chưa trả lại tiền bị đơn đã đóng 02 kỳ với số tiền là 7.600.000 đồng. Việc bị đơn cho rằng ký nhận nợ số tiền hụi mà mình chưa được nhận với số tiền là 105.000.000 đồng nhưng sau đó thì nguyên đơn không tiếp tục cho bị đơn tham gia chơi hụi và cũng không giao số tiền 105.000.000 đồng nhưng từ tháng 10/2023 âm lịch cho đến nay mà bị đơn không có ý kiến gì về việc mình không nhận tiền mà đã ký giấy nhận nợ. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc bị đơn trình bày số tiền chưa nhận được số tiền 105.000.000 đồng nhưng ký nhận nợ là không có cơ sở xem xét.
[12] Theo lời trình bày của bị đơn tại Bản trình bày ý kiến đề ngày 22/4/2024 về số tiền lãi 6.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng trong tờ giấy nợ thì số tiền 250.000.000 đồng có tiền lãi của số tiền 70.000.000 đồng là tiền hụi còn thiếu của các dây hụi cũ nhưng bị đơn không có gì chứng minh nên cũng không có căn cứ để chấp nhận.
[13] Nhận thấy lời trình bày và thừa nhận của bị đơn đã thể hiện bị đơn hiện còn thiếu của bà M số tiền hụi của dây hụi ngày 10/6/2022 âm lịch và ngày 15/6/2022 âm lịch là 72.000.000 đồng, tiền hụi còn thiếu của các dây hụi trước đó là 70.000.000 đồng, tổng cộng là 142.000.000 đồng. Nếu cộng với số tiền vay 130.000.000 đồng như lời trình bày của bà M và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì tổng số tiền bị đơn còn thiếu là 272.000.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn bà Lê Thị M chỉ yêu cầu bị đơn cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền 250.000.000 đồng theo giấy nợ viết tay là có lợi cho phía bị đơn.
[14] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Lê Thị M yêu cầu anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà M số tiền 250.000.000 đồng (trong đó 130.000.000 đồng tiền vay và 120.000.000 đồng tiền hụi) là có cơ sở nên chấp nhận.
[15] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn bà Lê Thị M phải có trách nhiệm trả lại số tiền 7.600.000 đồng mà anh chị đã đóng tiền của dây hụi ngày 25/8/2023 âm lịch nhưng bà M đã không cho anh chị tiếp tục tham gia. Tại phiên tòa, bà M cũng thừa nhận có cho bị đơn là anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N tham gia dây hụi 5.000.000 đồng khui ngày 25/8/2023 âm lịch, mục đích bà cho vợ chồng anh C tham gia là để hốt hụi chót trả nợ cho bà M, anh C đã đóng hụi được 02 kỳ với số tiền 7.600.000 đồng nhưng bà chưa trả lại do vợ chồng C vẫn còn thiếu nợ của bà. Nay bà M cũng đồng ý trả lại cho vợ chồng C và đồng ý khấu trừ vào số tiền mà vợ chồng còn thiếu của bà.
[16] Xét thấy lời trình bày của bị đơn và sự thừa nhận của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu phản tố của bị đơn anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận, buộc bà Lê Thị M phải có trách nhiệm trả lại số tiền 7.600.000 (bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng cho anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N.
[17] Như vậy, anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị M số tiền 250.000.000 đồng, khấu trừ số tiền 7.600.000 đồng mà bà M còn thiếu như đã nhận định nêu trên thì anh C và chị N còn phải tiếp tục trả cho bà M số tiền là 242.400.000 (hai trăm bốn mươi hai triệu, bốn trăm nghìn) đồng.
[18] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Yêu cầu của bị đơn được chấp nhận nên nguyên đơn cũng phải chịu án phí nhưng nguyên đơn được miễn nộp do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 471, Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 92, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị M. Buộc bị đơn anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Lê Thị M số tiền 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng (trong đó 130.000.000 đồng tiền vay và 120.000.000 đồng tiền hụi).
- Chấp nhận yêu cầu của bị đơn anh Nguyễn Chí C, chị Nguyễn Thị N. Buộc bà Lê Thị M phải có trách nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N số tiền hụi còn thiếu là 7.600.000 (bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
+ Buộc anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 12.500.000 (mười hai triệu, năm trăm nghìn) đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0008546 ngày 23/4/2024 và 300.000 đồng theo biên lai số 0008712 ngày 10/6/2024 cùng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Số tiền án phí mà anh Nguyễn Chí C và chị Nguyễn Thị N còn phải nộp tiếp là 11.900.000 (mười một triệu, chín trăm nghìn) đồng.
+ Án phí dân sự sơ thẩm bà Lê Thị M phải chịu là 380.000 (ba trăm tám mươi nghìn) đồng; tuy nhiên bà Lê Thị M được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi theo luật định.
5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |
Bản án số 98/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về nợ hụi và hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 98/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về nợ hụi và hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị Muối. Buộc bị đơn anh Nguyễn Chí Cường và chị Nguyễn Thị Nghề phải có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn bà Lê Thị Muối số tiền 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng (trong đó 130.000.000 đồng tiền vay và 120.000.000 đồng tiền hụi). - Chấp nhận yêu cầu của bị đơn anh Nguyễn Chí Cường, chị Nguyễn Thị Nghề. Buộc bà Lê Thị Muối phải có trách nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Chí Cường và chị Nguyễn Thị Nghề số tiền hụi còn thiếu là 7.600.000 (bảy triệu sáu trăm nghìn) đồng.
