Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HS-PT

Ngày 11 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thám

Các Thẩm phán: Ông Lưu Hữu Giàu và bà Ngô Ngọc Phỉ

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mộng Cầm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền –Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 161/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Lê Ngọc H, do có kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Ngọc H, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1974 tại huyện L, tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú: CH 2306, G, khu đô thị M, tổ dân phố F, Phường C, Quận N, Thành Phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Số A, Tuyến D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn: Không; Con ông: Lê Ngọc L và bà Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ tên Lê Thị H1, sinh năm 1974; có 02 con: lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2006; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 1992 nhập ngũ tại kho K894, Cục Q1, T3 đến năm 2011 xuất ngũ. Năm 2001 được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng 3.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26 tháng 9 năm 2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 9 năm 2022 Lê Ngọc H gặp ông Nguyễn Văn Q thỏa thuận ký hợp đồng mua bán máy lọc nước. Do H còn nợ 1.100.000.000 đồng nên ông Q yêu cầu H muốn ký hợp đồng mua máy lọc nước phải có tài sản đảm bảo. Lúc này, H nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của H đã thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S chi nhánh C để làm tài sản đảm bảo. Thực hiện ý định này, khoảng đầu tháng 11 năm 2022 H lên mạng xã hội facebook liên hệ với người không rõ họ tên, địa chỉ cung cấp thông tin thuê làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 965436 ngày 25 tháng 6 năm 2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Huỳnh Công K và bà Lương Thị Phương T1, điều chỉnh trang 3 chuyển nhượng cho ông Lê Ngọc H, sinh năm 1974, xác nhận của Văn phòng Đ chi nhánh L1 ngày 21/4/2022 với giá 3.000.000 đồng, nhưng chưa trả tiền. Khoảng 05 ngày sau H nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (giấy giả) qua dịch vụ giao hàng. Ngày 08/11/2022 H hẹn ông Q đến Phòng C1, tỉnh An Giang để chứng nhận hợp đồng. Qua kiểm tra, ông Lý Đăng N - Trưởng Phòng C1 nghi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của H là giả nên trình báo Công an phường M.

* Vật chứng thu giữ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 965436, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS15487 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Huỳnh Công K và bà Lương Thị Phương T1 ngày 25 tháng 6 năm 2020, Văn phòng Đ chi nhánh L1 xác nhận chuyển nhượng cho ông Lê Ngọc H, sinh năm 1974 ngày 21/4/2022.

* Kết luận giám định số 27/KL-KTHS(TL-GT) ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh A xác định:

  • - Phôi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV965436 cần giám định (ký hiệu: A) là phôi giấy giả.
  • - Hình dấu tròn của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A và hình dấu tròn của Văn phòng Đ chi nhánh L1 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 965436 cần giám định (ký hiệu: A) là hình dấu được tạo ra bằng phương pháp sao in.
  • - Chữ ký mang tên Nguyễn Việt T2 và Nguyễn Thanh V trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 965436 cần giám định (ký hiệu: A) là chữ ký trực tiếp.
  • - Chữ ký mang tên Nguyễn Việt T2 và Nguyễn Thanh V trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 965436 cần giám định (ký hiệu: A) so với chữ ký của Nguyễn Việt T2 và Nguyễn Thanh V trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu: M3, M4) không phải do cùng người ký ra.

Tại Cáo trạng số: 41/CT-VKSLX, ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố Lê Ngọc H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Ngoài ra, bản sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, bị cáo Lê Ngọc H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lê Ngọc H thừa nhận có thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án:

  • - Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn luật định, nên có cơ sở xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  • - Về nội dung:

Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm tài liệu, đó là giấy xác nhận của các cơ quan nhà nước về việc bị cáo có hỗ trợ tặng máy lọc nước và một số tiền an sinh xã hội cho các cơ quan, như: Hội liên hiệp phụ nữ huyện C, A, C, phòng kinh tế thuộc UBND thành phố L và xã V, huyện T, ngoài ra còn có “Huy chương kháng chiến” của ông Lê Ngọc H2 là ông nội của bị cáo, nên kháng cáo của bị cáo là có cơ sở xem xét.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án ngày 11/7/2024.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc H được nộp trong hạn luật định, có hình thức và nội dung đúng theo quy định của pháp luật, nên đủ điều kiện xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2]. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, do không có kháng cáo, nội dung kháng cáo của bị cáo không liên quan đến quyền lợi ích hợp pháp của người liên quan, nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

[2]. Về nội dung, xét thấy:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 08 tháng 11 năm 2022 bị cáo H sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả với mục đích làm tài sản đảm bảo để ký hợp đồng mua bán với ông Q. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến hoạt động của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác. Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

[3]. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]. Xét kháng cáo của bị cáo, nhận thấy:

[4.1]. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, bị cáo không có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt có thời gian công tác tại kho K894 Cục Quân khí, T3, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác; có cha ruột là người có công với cách mạng quy định tại điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.2]. Bị cáo kháng cáo, giai đoạn phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm các tài liệu để được xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là. Giấy xác nhận của các cơ quan nhà nước về việc bị cáo có hỗ trợ tặng máy lọc nước và một số tiền an sinh xã hội cho các cơ quan, như: Hội liên hiệp phụ nữ huyện C, huyện A, thành phố C, phòng kinh tế thuộc UBND thành phố L và thư cảm ơn của Hội liên hiệp phụ nữ xã V, huyện T, Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất và hạng Ba của Lê Thị H1 (vợ của bị cáo) và Lê Ngọc H3 (em của bị cáo), ngoài ra còn có “Huy chương kháng chiến” của ông Lê Ngọc H2 là ông nội của bị cáo, nên kháng cáo của bị cáo được xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ, được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.3]. Song bị cáo có thể hiện hối hận và quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, có khả năng tự cải tạo nên việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù là không cần thiết và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; là hoàn toàn phù hợp với các quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

[5]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc H, cũng như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo hướng giữ nguyên mức hình phạt bị cáo Lê Ngọc H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo Lê Ngọc H được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 11 tháng 7 năm 2024).

[6]. Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7]. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc H.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 11 tháng 7 năm 2024).

Giao bị cáo Lê Ngọc H cho Ủy ban nhân dân phường C, Quận N, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, tại địa phương nếu bị cáo Lê Ngọc H cố ý vi phạm nghĩa vụ công dân 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định chuyển án treo thành tù giam, buộc bị cáo phải chấp hành.

Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Ngọc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Lê Ngọc H.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND thành phố Long Xuyên;
  • - TAND thành phố Long Xuyên;
  • - Công an thành phố Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Long Xuyên;
  • - UBND phường Cầu Diễn, Quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh (PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh AG;
  • - Phòng KTNV & THAHS TAND tỉnh;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng, Tòa Hình sự TAND tỉnh.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Thám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HS-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 98/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Ngọc H Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger