Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HSST

Ngày 11/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà La Thị Thành

Bà Lê Thị Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn L; Sinh ngày 22/8/1984, tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

Nơi cư trú: Bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Hà Văn S, sinh năm 1957 và bà Lò Thị L1, sinh năm 1957;

Bị cáo có 03 vợ gồm: Vợ thứ nhất: Lò Thị L2, sinh năm 1982; Vợ thứ hai: Hà Thị H, sinh năm 1986; Vợ thứ ba: Đỗ Thị T, sinh năm 1991 (hiện cả ba vợ đều đã ly hôn) và có 03 người con. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/6/2005, Hà Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt 20 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 53/2005/HS-ST.

Ngày 26/11/2009, Hà Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 07/2009/HS-ST.

Ngày 12/12/2013, Hà Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 08/2013/HS-ST.

Bị cáo đã chấp hành xong bản án cuối cùng vào ngày 08/9/2016, hiện đã được xoá án tích đối với cả ba bản án nêu trên.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/3/2024, tạm giam từ ngày 22/3/2024 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

Người làm chứng:

  1. Lò Văn L3.
  2. Lò Văn M.

(Cả hai người làm chứng đều vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ ngày 16/3/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Hà Văn L gặp một người phụ nữ quen biết từ trước nhưng Hà Văn L không rõ tên tuổi, địa chỉ. Hà Văn L đã đặt vấn đề mua nợ Heroine của người phụ nữ đó tương ứng với với số tiền 2.000.000 đồng để bán kiếm lời, khi nào bán được sẽ trả tiền sau. Người phụ nữ đó đồng ý lấy trong túi áo ra bán cho Hà Văn L 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu xanh). Mua được H1, Hà Văn L chia thành 02 gói nhỏ (đều được gói bằng mảnh ni lon màu xanh), cất giấu trong túi áo khoác đang mặc trên người không cho ai biết.

Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, khi Hà Văn L đang ở trong bản Noong Thăng, xã P, huyện T thì có Lò Văn L3 (sinh năm 1986, trú tại Mường, xã M, huyện T) và Lò Văn M (sinh năm 1992, trú tại bản Nà Phái, xã P, huyện T) đến gặp Hà Văn L. Lò Văn L3 trực tiếp hỏi mua Heroine của Hà Văn L, đồng thời đưa cho Hà Văn L số tiền 150.000 đồng. Cùng lúc này, Lò Văn M đứng bên cạnh cũng đưa cho Hà Văn L số tiền 100.000 đồng. Hà Văn L nhận tổng số tiền 250.000 đồng rồi lấy gói Heroine trong túi áo khoác ra, cấu lấy một ít chia làm 02 phần, gói vào 02 mảnh ni lon màu xanh bán cho Lò Văn L3Lò Văn M mỗi người 01 gói. Mua được H1, Lò Văn L3Lò Văn M đi ra bụi cây tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T cùng nhau sử dụng thì bị Công an huyện T phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính vào hồi 07 giờ 20 phút cùng ngày, vật chứng thu giữ của Lò Văn L3Lò Văn M mỗi người 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Văn L, Cơ quan điều tra thu giữ 02 gói Heroine (đều được gói bằng các mảnh li lon màu xanh) và số tiền 340.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn L còn khai nhận: Sau khi bán H1 cho Lò Văn L3Lò Văn M, Hà Văn L còn bán 01 gói Heroine cho một người đàn ông không rõ lai lịch lấy số tiền 90.000 đồng.

Tại Kết luận giám định tư pháp số 374 ngày 16/3/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và Kết luận giám định số 332 ngày 20/3/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Hà Văn L có tổng khối lượng 2,75 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin). Có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NDD-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Kết luận giám định số 333 ngày 21/3/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 340.000 đồng thu giữ của Hà Văn L là tiền thật.

Vật chứng của vụ án gồm: 2,75 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,28 gam (không hoàn lại mẫu vật), còn lại 2,47 gam; 02 mảnh ni lon màu xanh; 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu và số tiền 340.000 đồng. Các vật chứng còn lại hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Hà Văn L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn L 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 2,47 gam Heroine còn lại sau khi trích gửi giám định; 02 mảnh ni lon màu xanh; 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 250.000 đồng và trả lại cho bị cáo Hà Văn L số tiền 90.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Hà Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 05 giờ, ngày 16/3/2024, Hà Văn L đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người không rõ lai lịch với số tiền theo thoả thuận là 2.000.000 đồng. Mua được H1, Hà Văn L chia thành 02 gói mục đích để bán. Khoảng 07 giờ ngày 16/3/2024 tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Hà Văn L đã cùng một lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho Lò Văn L3Lò Văn M mỗi người một gói lấy tổng số tiền 250.000 đồng. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Văn L, Cơ quan điều tra thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 2,75 gam và số tiền 340.000 đồng trong đó có 250.000 đồng do Hà Văn L bán Heroine mà có.

Bị cáo Hà Văn L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với mục đích thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý, bị cáo đã có hành vi mua ma tuý về để bán kiếm lời. Trong ngày 16/3/2024, bị cáo đã cùng một lúc bán ma tuý cho hai người là Lò Văn L3Lò Văn M thu lời bất chính số tiền 250.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Hà Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Hà Văn L được sinh ra trong gia đình lao động nhưng không chịu khó làm ăn chân chính mà lại ăn chơi đua đòi, bị nghiện chất ma túy. Để có tiền tiêu sài cá nhân và có ma túy sử dụng cho nhu cầu bất hợp pháp của mình, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị kết án về các tội xâm phạm sở hữu, mặc dù đều đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 2,75 gam Heroine thu giữ của Hà Văn L, trong đó Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,28 gam không hoàn lại mẫu vật nên không phải xử lý, còn lại 2,47 gam Heroine là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu huỷ; Đối với 02 mảnh ni lon màu xanh, 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với số tiền 340.000 đồng thu của bị cáo Hà Văn L, trong đó có 250.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, trả lại cho bị cáo 90.000 đồng không chứng minh được do bị cáo phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hà Văn L là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Hà Văn L khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn L3, Lò Văn M, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Quá trình điều tra, Hà Văn L còn khai nhận: Ngày 16/3/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo có bán cho một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine lấy số tiền 90.000 đồng. Ngoài lời khai của bị cáo, không còn tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Hà Văn L về lần bán trái phép chất ma túy này là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
  • - Căn cứ khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Hà Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn L 08 (T1) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 16/3/2024.
  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Bì niêm phong bên trong đựng 2,47 gam Heroine; 01 Phong bì bên trong đựng 02 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng); trả lại cho bị cáo Hà Văn L số tiền 90.000 đồng (Chín mươi nghìn đồng).

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Hà Văn L 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên;
  • - Nhà Tạm giữ Công an huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

ĐÃ KÝ

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TAND HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 98/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TAND HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn L - Mua bán trái phép chất ma tuý bị xử phạt 08 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger