Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-7-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
  2. Bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 189/2024/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Hoàng Ngọc L, sinh năm 1994; thường trú: Số A đường L, tổ dân phố C, Khu phố B, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số B Block C, khu C, số B đường Q, khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Vòng Cấm P, sinh năm 1987; thường trú: Tổ D, ấp C, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Số B Block C, khu C, số B đường Q, khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 4 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Phạm Hoàng Ngọc L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Hoàng Ngọc L và anh Vòng C Phốc sau thời gian tìm hiểu nhau, tự nguyện chung sống, có tổ chức đám cưới vào năm 2020 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65, ngày 08 tháng 12 năm 2020.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhiều nơi đến tháng 9/2023 thì chuyển đến 21.02 Block C, khu C, số B đường Q, khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương sinh sống. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau dẫn đến bạo lực gia đình, anh P đánh chị L, đỉnh điểm là vào ngày 18/4/2024 anh P đã uống rượu, chửi, đánh chị L sau đó Công an phường B đã lập biên bản hòa giải. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với anh P.

Về con chung: Chị Phạm Hoàng Ngọc L và anh V Cấm Phốc có 01 con chung tên Vòng Gia H, sinh ngày 11/7/2021. Chị Phạm Hoàng Ngọc L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Vòng Cấm P đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17/6/2024 và tham gia phiên tòa vào các ngày 03/7/2024 và 10/7/2024 trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án.

- Tại biên bản xác minh ngày 22/5/2024 Hội Liên hiệp phụ nữ phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, Hội Liên hiệp phụ nữ phường B không có thông tin trình báo về mâu thuẫn vợ chồng chị Phạm Hoàng Ngọc L và anh Vòng Cấm P. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn giữa chị L và anh P, Hội Liên hiệp phụ nữ phường B không biết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan. Bị đơn đã được Tòa án thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 để xét xử vắng mặt các đương sự.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Vòng Cấm P đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17/6/2024 và tham gia phiên tòa vào các ngày 03/7/2024, 10/7/2024 trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vắng mặt không có lý do; chị L có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân chị Phạm Hoàng Ngọc L và anh Vòng C Phốc có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 65, ngày 08 tháng 12 năm 2020, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[3] Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn xác định mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, anh P có hành vi bạo lực gia đình, cụ thể ngày 18/4/2024 anh P đã uống rượu, chửi, đánh chị L sau đó Công an phường B đã lập biên bản hòa giải và hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình tố tụng, Tòa án đã triệu tập anh P để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh P bỏ mặc không đến, đồng thời chị L có đơn từ chối hòa giải, chứng tỏ mục đích của hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng không thể hàn gắn. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Chị Phạm Hoàng Ngọc L và anh V Cấm Phốc có 01 con chung tên Vòng Gia H sinh ngày 11/7/2021. Chị Phạm Hoàng Ngọc L yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia H, chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Xét việc giao con cho ai chăm sóc phải đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho con, nhận thấy cháu H còn nhỏ (sinh ngày 11/7/2021) hiện dưới 36 tháng tuổi, đồng thời chị L có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình xét xử sẽ giao con chung cho chị Phạm Hoàng Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L về việc không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Phạm Hoàng Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.

[7] Chi phí tố tụng: Chi phí đăng văn bản tố tụng trên các phương tiện thông tin đại chúng là 5.000.000 (năm triệu) đồng, nguyên đơn chị L chịu được khấu trừ hết vào số tiền đã ứng nộp tại Tòa án.

[8] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Phạm Hoàng Ngọc L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Hoàng Ngọc L về tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn anh Vòng Cấm P.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Hoàng Ngọc L được ly hôn với anh Vòng Cấm P (Giấy chứng nhận kết hôn số 65, ngày đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 12 năm 2020, tại UBND xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai).
  2. Về con chung: Giao con chung tên Vòng Gia Huy sinh ngày 11 tháng 7 năm 2021 cho chị Phạm Hoàng Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị L về việc không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, chị L phải tạo điều kiện cho anh P trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

  3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Chi phí tố tụng: Chi phí đăng văn bản tố tụng trên các phương tiện thông tin đại chúng là 5.000.000 (năm triệu) đồng, nguyên đơn chị L chịu được khấu trừ hết vào số tiền đã ứng nộp tại Tòa án.
  5. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Hoàng Ngọc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002967 ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 98/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hoàng Ngọc L tranh chấp ly hôn, nuôi con với anh Vòng Cấm P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger