Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 98/2024/HSST
Ngày: 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Dương Thị Hồng Vân
  2. Bà Nguyễn Minh Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Ngọc H, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố số F, Thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc M và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Nguyễn Thị D và có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Văn B, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1986 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, Thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 (đã chết) và bà Hoàng Thị B1; có vợ là Đỗ Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/12/2023 đến ngày 29/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Phạm Văn Q; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị M2; vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đỗ Văn T1; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 18/12/2023, khi Vũ Ngọc H đang ở nhà tại Tổ dân phố số F, Thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng thì Nguyễn Văn B gọi điện hỏi thăm công việc và chuẩn bị Tết Nguyên đán. Quá trình nói chuyện, H và B nảy sinh ý định mua pháo nổ để đốt vào Tết Nguyên đán nên bàn bạc với nhau tìm kiếm trên mạng xã hội Facebook. H tìm thấy một tài khoản Facebook (viết tắt TK) (không xác định được nhân thân lai lịch) bán các loại pháo gồm pháo nổ, pháo hoa, pháo bông thì nhắn lại số điện thoại vào phần bình luận. Mấy phút sau, TK Zalo “Hoa Hoa” gửi yêu cầu kết bạn với TK Zalo của H. H chấp nhận kết bạn thì TK này nhắn tin hỏi loại pháo cần mua và địa chỉ nhận hàng. H trả lời mua pháo nổ, nhận hàng ở Hải Phòng thì được báo giá 450.000 đồng/mét. Sau khi trao đổi với B và thống nhất H chịu trách nhiệm giao dịch với người bán, đặt mua 12 mét pháo (trong đó B mua 10 mét, H mua 2 mét). Sau đó, H nhắn tin lại cho TK “Hoa Hoa” số lượng như trên, hẹn ngày 20/12/2023 nhận hàng. Bẩy có xe ô tô vận chuyển hàng hoá tuyến V - C hàng ngày nên sẽ nhận số pháo nổ mang về C, tiền mua pháo của B và cước vận chuyển pháo về C cho H tính toán trả sau.

Sáng ngày 20/12/2023, TK “Hoa Hoa” nhắn tin cho H chuyển số tiền 1.000.000 đồng đặt cọc đến số TK 0031000133361 chủ TK Phan Thị T2 tại Ngân hàng V1, nhận hàng ở huyện A, Hải Phòng và gửi số điện thoại của người nhận pháo, địa điểm giao hàng cụ thể sẽ báo sau. Theo hướng dẫn, H chuyển khoản 1.000.000 đồng từ tài khoản cá nhân của H đến số TK ngân hàng nêu trên và gửi số điện thoại của B cho người bán pháo (không rõ tung tích, lai lịch), sau đó gọi điện thông báo cho B biết. Trưa cùng ngày, khi đang điều khiển chiếc xe ô tô BKS 15C - 402.90 chở hàng hoá từ V về C, một người nam giới sử dụng số điện thoại 0582.810.xxx gọi tới số điện thoại của B nói giao thùng hàng cho H có số điện thoại 0366.660.xxx, hẹn Bẩy ở khu vực ngã tư Q thuộc địa bàn xã Q, huyện A, Hải Phòng theo chiều đường từ A về nội thành Hải Phòng. Bẩy hiểu là giao pháo nên điều khiển xe ô tô đến địa điểm hẹn. Bẩy thấy một người đàn ông đứng bên lề đường giáp cánh đồng vẫy xe nên dừng xe lại. Người này đưa ra 01 thùng carton trên mặt thùng có chữ “Hải Cb, SĐT 0366.660.xxx” thì B gật đầu và bảo phụ xe là anh Phạm Văn Q, sinh năm 1985, trú tại: Thôn H, xã V, huyện V, Hải Phòng) nhận hàng cất giấu ở thùng chở hàng phía sau xe để mang về C. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực cổng Trung tâm Đ1 đường C, phường Đ, quận H, Hải Phòng thì B bị Đ Công an Khu Công nghiệp Đình Vũ phối hợp với lực lượng Cảnh sát Giao thông Công an quận H tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang đang cất giấu 01 thùng carton, bên trong có 06 cuộn hình trụ tròn có đặc điểm vỏ bằng giấy màu đỏ được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn sợi dây, dạng dây cháy chậm, được liên kết với nhau thành 06 tràng và cuộn thành 06 khối (B khai là pháo nổ) tại thùng chở hàng phía sau xe ô tô BKS 15C - 402.90. Đồn Công an Khu Công nghiệp Đình V đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong gửi giám định. Ngoài ra, Đồn Công an K thu giữ của Bẩy 01 điện thoại di động Iphone 6Plus, 01 điện thoại di động Iphone XS Max và tạm giữ 01 xe ô tô BKS 15C - 402.90.

Tại Bản kết luận giám định số 122 ngày 21/12/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Các vật hình trụ tròn vỏ bằng giấy màu đỏ được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn sợi dây, dạng dây cháy chậm, được liên kết với nhau thành 06 tràng và cuộn thành 06 khối gửi giám định là pháo nổ, có khối lượng 14,10 kg.

Về vật chứng vụ án: Thu giữ 01 điện thoại Iphone 6 Plus và 01 điện thoại Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại Iphone 11 thu giữ của Vũ Ngọc H.

Đối với 01 chiếc xe ô tô BKS 15C- 402.90, chủ sở hữu là Nguyễn Văn B. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô BKS 15C - 402.90 được ông Đỗ Văn T1 và bà Lương Thị N (là bố mẹ vợ của B đưa tiền cho B mua và đứng tên đăng ký xe để làm dịch vụ vận chuyển hàng hoá kiếm thu nhập nuôi gia đình). Ông T1, bà N không biết B sử dụng xe để tàng trữ, vận chuyển pháo nổ và có đơn xin được trả lại chiếc xe ô tô BKS 15C - 402.90 là phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cho ông Đỗ Văn T1.

Cơ quan CSĐT Công an quận H, thành phố Hải Phòng tiếp tục tạm giữ vật chứng là số pháo nổ còn lại sau giám định để bảo quản, chờ xử lý (do hiện tại Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố H chưa có kho bảo quản, không thể tiếp nhận vật chứng là pháo nổ).

Tại Bản Cáo trạng số 72/CT-VKSHA ngày 28/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Vũ Ngọc H và Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo khai nhận B là người đề xuất gọi điện nhờ H mua pháo về mục đích để về đốt chơi tết nên đã nhờ H liên hệ mua 10 mét pháo nổ, còn H mua 2 mét được liên kết với nhau thành 06 tràng và cuộn thành 06 khối có khối lượng 14,10 kg.

Người làm chứng và người chứng kiến: Anh Phạm Văn Q, Bà Nguyễn Thị M2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên vắng mặt không có lý do. Tòa án đã công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án.

Người có quyền có lợi, nghĩa vụ liên quan: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tuy nhiên vắng mặt không có lý do. Tòa án đã công bố lời khai của ông Đỗ Văn T1 có trong hồ sơ vụ án: Thể hiện ông T1, bà N đưa tiền cho B mua xe và đứng tên đăng ký xe để làm dịch vụ vận chuyển hàng hoá kiếm thu nhập nuôi gia đình). Ông T1, bà N không biết B sử dụng xe để tàng trữ, vận chuyển pháo nổ. Hiện chiếc xe ô tô BKS 15C - 402.90 là phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Đỗ Văn T1.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng c khoản 1 Điều 191; Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt tiền bị cáo Vũ Ngọc H từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Áp dụng c khoản 1 Điều 191; Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Phạt Nguyễn Văn B từ 50.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Tàng trữ hàng cấm”; Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt tiền là hình phạt chính, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số pháo nổ còn lại sau giám định. Số pháo trên hiện cơ quan Cơ quan điều tra Công an quận H, Hải Phòng tiếp tục tạm giữ để bảo quản, chờ xử lý (do hiện tại Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố H chưa có kho bảo quản, không thể tiếp nhận vật chứng là pháo nổ); tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại Iphone 11 thu giữ của Vũ Ngọc H là phương tiện các bị cáo dùng vào việc liên lạc phạm tội; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B 01 điện thoại Iphone 6 Plus do không liên quan đến việc phạm tội; về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng, người chứng kiến:

[2] Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ người làm chứng, người chứng kiến; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên vắng mặt không có ý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người làm chứng; người chứng kiến; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của các bị cáo Vũ Ngọc H và Nguyễn Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Do có nhu cầu cần mua pháo nổ về đốt vào Tết Nguyên đán, nên Nguyễn Văn B nhờ Vũ Ngọc H liên hệ mua 10 mét pháo nổ, còn H mua 2 mét. Sáng ngày 20/12/2023, H liên hệ với người bán pháo nổ và hẹn giao hàng cho B. Nguyễn Văn B đã điều khiển xe ô tô tải BKS 15C - 402.90 đến khu vực ngã tư Q, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng, nhận và cất giấu 12 mét pháo nổ nặng 14,10 kg vào thùng để hàng hóa phía sau xe ô tô, sau đó vận chuyển về Thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng. Khi B điều khiển xe ô tô đến khu vực trước cổng Trung tâm Đ1 đường C, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

[5] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán những loại hàng hóa mà Nhà nước cấm không cho phép lưu thông trên thị trường. Việc vận chuyển, tàng trữ pháo nổ đã gây ra rất nhiều tác hại nguy hiểm là một trong những nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn thương tâm, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Như vậy hành vi của các bị cáo Vũ Ngọc H, Nguyễn Văn B và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

[6] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng một mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xét vai trò đối với các bị cáo:

[7] Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn B đã nhờ Vũ Ngọc H mua pháo nổ 10 mét, Vũ Ngọc H mua 2 mét. Tuy nhiên Vũ Ngọc H là người tham gia tích cực, trực tiếp liên lạc việc mua pháo người chủ động mua pháo nên H vai trò cao hơn so với Nguyễn Văn B.

- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[8] Các bị cáo Nguyễn Văn B và Vũ Ngọc H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[9] Xét nhân thân Vũ Ngọc H và Nguyễn Văn B chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Vũ Ngọc H đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[10] Xét bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ có nơi cư trú rõ ràng. Đến nay hành vi phạm tội của bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng mức hình phạt cải tạo cách ly xã hội mà cho bị cáo Vũ Ngọc H, Nguyễn Văn B được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự, cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về xử lý vật chứng:

[11] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số pháo nổ còn lại sau giám định. Số pháo trên hiện cơ quan Cơ quan điều tra Công an quận H, Hải Phòng tiếp tục tạm giữ để bảo quản, chờ xử lý (do hiện tại Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố H chưa có kho bảo quản, không thể tiếp nhận vật chứng là pháo nổ); tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại Iphone 11 thu giữ của Vũ Ngọc H là phương tiện các bị cáo dùng vào việc liên lạc phạm tội; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B 01 điện thoại Iphone 6 Plus do không liên quan đến việc phạm tội.

[12] Đối với 01 chiếc xe ô tô BKS 15C- 402.90, kết quả xác minh xác định chủ sở hữu là Nguyễn Văn B. Xác định chiếc xe ô tô BKS 15C - 402.90 được ông Đỗ Văn T1 và bà Lương Thị N (là bố mẹ vợ của B đưa tiền cho B mua và đứng tên đăng ký xe để làm dịch vụ vận chuyển hàng hoá kiếm thu nhập nuôi gia đình). Ông T1, bà N không biết B sử dụng xe để vận chuyển pháo nổ, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cho ông Đỗ Văn T1.

[13] Đối với số TK 0031000133361 Ngân hàng V1, tài liệu điều tra xác định có chủ TK là Phan Thị T2, trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng). Chị T2, H và B không quen biết và chưa bao giờ gặp nhau; số tiền 1.000.000 đồng là một nam giới đến quán uống nước nhờ nhận hộ vào số tài khoản của T2, đưa cho người này tiền mặt; không biết đây là tiền bán pháo nổ mà có, nên Cơ quan điều tra không lập hồ sơ để điều tra xử lý.

[14] Đối với đối tượng sử dụng TK Zalo “Hoa Hoa” giao dịch với H, người nam giới giao 01 thùng pháo cho B, Cơ quan điều tra đã phục hồi dữ liệu điện thoại di động của H nhưng không còn dữ liệu nào liên quan nên không xác định được nhân thân lai lịch. Nên, Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để lập hồ sơ điều tra xử lý.

[15] Đối với số thuê bao 0582810392 liên lạc với Bẩy ngày 20/12/2023 người đăng ký thuê bao là Lê Xuân L. Tuy nhiên, L khai không đăng ký hay sử dụng số thuê bao nêu trên. Tiến hành nhận dạng qua ảnh đối với Lê Xuân L, Nguyễn Văn B và anh Phạm Văn Q kết quả L không phải là đối tượng giao pháo nổ ngày 20/12/2023 nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để lập hồ sơ điều tra xử lý.

- Về án phí:

[16] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Vũ Ngọc H, Nguyễn Văn B đồng phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử: Phạt tiền bị cáo Vũ Ngọc H 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 35; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn B 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáoVũ Ngọc H, Nguyễn Văn B kể từ ngày tuyên án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy số pháo nổ còn lại sau giám định. Số pháo trên hiện cơ quan Cơ quan điều tra Công an quận H, Hải Phòng tiếp tục tạm giữ để bảo quản, chờ xử lý (do hiện tại Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố H chưa có kho bảo quản, không thể tiếp nhận vật chứng là pháo nổ).
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone XS Max thu giữ của Nguyễn Văn B; 01 điện thoại Iphone 11 thu giữ của Vũ Ngọc H là phương tiện các bị cáo dùng vào việc liên lạc phạm tội.
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B 01 điện thoại Iphone 6 Plus do không liên quan đến việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Mỗi bị cáo Vũ Ngọc H, Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Vũ Ngọc H, Nguyễn Văn B, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Đỗ Văn T1 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS- Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 98/2024/HSST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 98/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Ngọc H và Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ hàng cấm”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger